Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng hội chứng chuyển hóa một số yếu tố liên quan và hiệu quả biện pháp can thiệp ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh kon tum

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng hội chứng chuyển hóa, yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp tại bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum.

Trường đại học

Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương

Chuyên ngành

Dịch tễ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

226
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm và lịch sử nghiên cứu hội chứng chuyển hóa

1.2. Khái quát về lịch sử nghiên cứu hội chứng chuyển hóa

1.3. Cơ chế bệnh sinh, đặc điểm dịch tể lâm sàng, chẩn đoán, điều trị

1.3.1. Cơ chế bệnh sinh

1.3.2. Đặc điểm dịch tể lâm sàng

1.3.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán, điều trị

1.3.3.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa
1.3.3.2. Đặc điểm về phân bố bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa
1.3.3.2.1. Phân bố bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa trên thế giới
1.3.3.2.2. Phân bố bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa tại Việt Nam

1.3.4. Một số yếu tố nguy cơ trong hội chứng chuyển hóa

1.3.4.1. Các yếu tố không thay đổi được
1.3.4.2. Các yếu tố có thể thay đổi được

1.3.5. Biện pháp can thiệp dự phòng hội chứng chuyển hóa

1.3.5.1. Dự phòng trong cộng đồng đối với người chưa mắc
1.3.5.2. Can thiệp dự phòng đối với người mắc
1.3.5.2.1. Các biện pháp can thiệp dự phòng không dùng thuốc
1.3.5.2.2. Các biện pháp can thiệp dự phòng có dùng thuốc
1.3.5.2.3. Các biện pháp can thiệp dự phòng kết hợp

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng hội chứng chuyển hóa và một số yếu tố lên quan ở người bệnh đến khám và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum (2018 - 2019)

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.4.1. Địa điểm nghiên cứu
2.1.4.2. Thời gian nghiên cứu

2.1.5. Phương pháp nghiên cứu

2.1.5.1. Thiết kế nghiên cứu
2.1.5.2. Phương pháp chọn mẫu

2.1.6. Nội dung nghiên cứu

2.1.7. Các biến số và chỉ số nghiên cứu

2.1.8. Kỹ thuật và công cụ sử dụng trong nghiên cứu

2.2. Mục tiêu 2: Đánh giá hiệu quả biện pháp can thiệp điều trị kết hợp với truyền thông, giáo dục thay đổi hành vi, lối sống cho bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.2.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.4.1. Địa điểm nghiên cứu
2.2.4.2. Thời gian nghiên cứu

2.2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.2.5.1. Thiết kế nghiên cứu
2.2.5.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.2.6. Nội dung nghiên cứu

2.2.6.1. Tư vấn thay đổi lối sống của người bệnh
2.2.6.2. Điều trị bằng thuốc
2.2.6.3. Giám sát, hỗ trợ người bệnh tuân thủ can thiệp

2.2.7. Các biến số, chỉ số nghiên cứu

2.2.8. Kỹ thuật và công cụ sử dụng trong nghiên cứu

2.2.9. Kỹ thuật thu thập thông tin

2.2.10. Công cụ thu thập thông tin

2.2.11. Kỹ thuật xét nghiệm máu

2.2.12. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.2.13. Phương pháp kiểm soát nhiễu và hạn chế sai số

2.2.14. Đạo đức trong nghiên cứu

2.2.15. Thành viên tham gia nghiên cứu

2.2.16. Đối tượng tham gia nghiên cứu

2.2.17. Hội đồng Khoa học và Đạo đức Y sinh học

2.2.18. Quản lý dữ liệu

2.2.19. Dịch vụ chăm sóc y tế

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Xác định tỷ lệ mắc ở bệnh nhân đến khám và một số đặc điểm dịch tễ lâm sàng ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum

3.1.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Tỷ lệ mắc và đặc điểm dịch tễ, lâm sàng hội chứng chuyển hóa

3.1.3. Yếu tố liên quan với hội chứng chuyển hóa

3.2. Mục tiêu 2: Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp điều trị kết hợp với điều chỉnh lối sống ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa tại điểm nghiên cứu (2018 - 2019)

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Xác định tỷ lệ mắc ở bệnh nhân đến khám và một số đặc điểm dịch tễ lâm sàng ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum

4.1.1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

4.1.2. Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng hội chứng chuyển hóa

4.1.3. Yếu tố liên quan hội chứng chuyển hóa

4.2. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp điều trị kết hợp với điều chỉnh lối sống ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa

4.3. Thực trạng hội chứng chuyển hóa và một số yếu tố liên quan ở 1.039 người bệnh đến khám và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum (2018-2019)

4.4. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp điều trị kết hợp với truyền thông, giáo dục thay đổi hành vi, lối sống cho 226 bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Hội chứng chuyển hóa và bối cảnh nghiên cứu

Hội chứng chuyển hóa là một nhóm các rối loạn chuyển hóa làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường và các bệnh lý khác. Nghiên cứu này tập trung vào thực trạng hội chứng chuyển hóa tại Bệnh viện Đa khoa Kon Tum, một cơ sở y tế quan trọng ở khu vực miền núi phía Bắc Tây Nguyên. Tỉnh Kon Tum có đặc điểm dân cư đa dạng, với nhiều dân tộc thiểu số và tỷ lệ hộ nghèo cao, điều này ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm. Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng và đánh giá hiệu quả can thiệp thông qua các biện pháp điều chỉnh lối sống và sử dụng thuốc.

1.1. Khái niệm và lịch sử nghiên cứu

Hội chứng chuyển hóa được định nghĩa là một nhóm các rối loạn chuyển hóa bao gồm béo bụng, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và tăng đường huyết. Lịch sử nghiên cứu về hội chứng chuyển hóa bắt đầu từ thế kỷ 18, với các phát hiện về mối liên hệ giữa béo phì và các bệnh lý chuyển hóa. Các nghiên cứu gần đây tập trung vào cơ chế bệnh sinh, đặc biệt là vai trò của kháng insulin và tình trạng viêm mãn tính.

1.2. Bối cảnh y tế tại Kon Tum

Bệnh viện Đa khoa Kon Tum là cơ sở y tế tuyến cuối tại tỉnh Kon Tum, nơi tiếp nhận và điều trị các bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa. Tỉnh Kon Tum có tỷ lệ hộ nghèo cao và đa dạng văn hóa, điều này đặt ra thách thức trong việc triển khai các biện pháp can thiệp y tế hiệu quả. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp với đặc thù địa phương.

II. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng

Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2018 đến 2020 tại Bệnh viện Đa khoa Kon Tum, với hai mục tiêu chính: mô tả thực trạng hội chứng chuyển hóa và đánh giá hiệu quả can thiệp thông qua điều chỉnh lối sống và sử dụng thuốc. Đối tượng nghiên cứu bao gồm 1.039 bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện. Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa mô tả và can thiệp, sử dụng các công cụ đánh giá lâm sàng và cận lâm sàng.

2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả và can thiệp, với hai giai đoạn chính: mô tả thực trạng và đánh giá hiệu quả can thiệp. Các biến số được thu thập bao gồm chỉ số nhân trắc, thói quen ăn uống, và các chỉ số lâm sàng như huyết áp, đường huyết, và lipid máu.

2.2. Đối tượng và tiêu chuẩn lựa chọn

Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán mắc hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn của IDF. Các tiêu chuẩn loại trừ bao gồm bệnh nhân mắc các bệnh lý nặng hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu.

III. Kết quả nghiên cứu và hiệu quả can thiệp

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa tại Bệnh viện Đa khoa Kon Tum là 27%, với các yếu tố nguy cơ chính bao gồm béo phì, ít vận động, và thói quen ăn uống không lành mạnh. Hiệu quả can thiệp được đánh giá thông qua việc giảm các chỉ số lâm sàng như huyết áp, đường huyết, và lipid máu sau 6 tháng can thiệp.

3.1. Tỷ lệ mắc và yếu tố nguy cơ

Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa cao nhất ở nhóm tuổi 55-64, với các yếu tố nguy cơ chính là béo phì, ít vận động, và thói quen ăn mặn. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về tỷ lệ mắc giữa các nhóm dân tộc, phản ánh sự ảnh hưởng của yếu tố văn hóa và lối sống.

3.2. Hiệu quả can thiệp

Các biện pháp can thiệp y tế bao gồm tư vấn thay đổi lối sống, sử dụng thuốc, và giám sát tuân thủ điều trị đã mang lại hiệu quả đáng kể. Sau 6 tháng, tỷ lệ bệnh nhân giảm cân, cải thiện huyết áp và đường huyết tăng lên đáng kể, chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp can thiệp.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng hội chứng chuyển hóa tại Bệnh viện Đa khoa Kon Tum và đề xuất các biện pháp can thiệp y tế hiệu quả. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách y tế và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại khu vực miền núi.

4.1. Đóng góp khoa học

Nghiên cứu đã làm rõ các yếu tố nguy cơ và hiệu quả của các biện pháp can thiệp y tế trong điều trị hội chứng chuyển hóa, góp phần vào kho tàng kiến thức y khoa và dịch tễ học.

4.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc xây dựng các chương trình can thiệp tại cộng đồng, đặc biệt là ở các khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn như Kon Tum, nhằm giảm tỷ lệ mắc và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng hội chứng chuyển hóa một số yếu tố liên quan và hiệu quả biện pháp can thiệp ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và lịch sử nghiên cứu hội chứng chuyển hóa 1. Khái niệm Hội chứng chuyển hóa (HCCH) - hay còn gọi là hội chứng X, hội chứng kháng insulin - là một hội chứng bao gồm nhiều bất thường về trao đổi chất làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường (ĐTĐ). Hội chứng chuyển hóa liên quan tới tăng nguy cơ rất nhiều bệnh, bao gồm ĐTĐ, bệnh mạch máu ngoại vi, bệnh tim mạch, thoái hóa mỡ ở gan, hội chứng buồng trứng đa nang, sỏi, hen, ngừng thở khi ngủ.

Các đặc điểm chính của HCCH gồm béo trung tâm (béo bụng), tăng triglyceride máu, giảm cholesterol lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C), tăng glucose máu và tăng huyết áp (THA) [8]. Khái quát về lịch sử nghiên cứu hội chứng chuyển hóa Năm 1765, bác sĩ người Ý, JB Morgagni, đã phát hiện mối liên quan giữa béo phì phủ tạng, THA, xơ vữa động mạch, acid uric tăng cao trong máu và hội chứng ngưng thở khi ngủ [9]. Tại Vienna, Áo, trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, hai bác sĩ, Karl Hitzenbergervà Martin Richter-Quittner, đã quan sát thấy sự liên quan lâm sàng lẫn nhau của rối loạn chuyển hóa và THA và ĐTĐ [10]. Tác giả Vague và cộng sự đã thiết lập mối liên hệ giữa béo phì và sự phát triển của ĐTĐ, THA, bệnh gout và xơ vữa động mạch, vai trò khác nhau của hai dạng béo phì (béo phì toàn thân và trung tâm/béo bụng) trong sự phát triển của bệnh tim mạch, giữa béo bụng và các bệnh lý chuyển hóa khác [10].

Giữa năm 1960, một số nhà khoa học công bố về sự tập hợp các thành phần khác nhau được mô tả bằng nhiều tên khác nhau như: hội chứng ba rối loạn chuyển hóa (trisyndrome metabolique), hội chứng đa chuyển hóa (plurimetabolic syndrome), hội chứng thịnh vượng (wohlstandssyndrom). Randle và cộng sự đã mô tả về chu trình glucose-acid béo, trong đó nêu ra vai trò của acid béo non-ester trong sự phát triển của kháng insulin và ĐTĐ. Năm 4 1981, Hanefeld và Leonhardt mô tả “hội chứng chuyển hóa” bao gồm bệnh ĐTĐ týp 2, tăng insulin máu, béo phì, THA, tăng lipid máu, bệnh gout và bệnh máu khó đông [10]. Reaven, mô tả Hội chứng kháng insulin (IRS) tại cuộc họp khoa học Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ hàng năm và THA và đặt tên là “hội chứng X” [11].

Một năm sau, Norman Kaplan thêm béo trung tâm (tăng lớp mỡ ở nội tạng và dưới da của vùng bụng), từ đó yếu tố này được coi là một trong những thành phần đặc trưng của hội chứng. Kaplan tóm tắt các đặc điểm chính của hội chứng gồm bốn thành phần (béo trung tâm, rối loạn glucose máu, tăng triglyceride máu và THA), và đặt tên là “tứ chứng chết chóc” (“the deadly quartet”). Sau đó, DeFronzo và Ferrannini, Haffner đã sử dụng thuật ngữ “hội chứng kháng insulin” để mô tả thực thể này, cho rằng kháng insulin có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của những rối loạn này [12]. Năm 1999, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đề xuất tên gọi và các tiêu chí của hội chứng kháng insulin [13].

Nhóm các nhà nghiên cứu tại Châu Âu nghiên cứu về đề kháng insulin đã đề xuất một phiên bản HCCH sửa đổi chỉ sử dụng cho các đối tượng không ĐTĐ và đổi tên thành hội chứng kháng insulin. Năm 2001, Ban chuyên gia về Phát hiện, đánh giá và điều trị Cholesterol máu cao ở người lớn áp dụng định nghĩa của HCCH được đề xuất trong báo cáo thứ ba của Chương trình giáo dục cholesterol quốc gia “National cholesterol education program -NCEP”. Năm 2003, Hiệp hội các bác sĩ Nội tiết lâm sàng Hoa Kỳ đã sửa đổi quan điểm này và tập trung vào việc đề kháng insulin như là nguyên nhân chính của HCCH và một lần nữa loại trừ các đối tượng ĐTĐ khỏi HCCH và quay trở lại tên hội chứng kháng insulin. Năm 2005, IDF đã ban hành một định nghĩa mới về HCCH, trong đó béo bụng là một tiêu chuẩn bắt buộc [14].

Năm 2007, Hiệp hội Quản lý Cân nặng và Phòng chống Béo phì, Hiệp hội Béo phì, Hiệp hội Dinh dưỡng Hoa Kỳ, và ADA đã đưa ra một tuyên bố 5 đồng thuận và cho rằng chưa có một bằng chứng thuyết phục chứng minh rằng béo bụng là YTNC độc lập với các YTNC chuyển hóa, tim mạch đã biết [15]. Năm 2009, Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF), Viện tim phổi máu quốc gia Hoa Kỳ (NHLBI), Hội tim mạch Hoa Kỳ (AHA), Liên đoàn tim mạch thế giới (WHF), Hiệp hội xơ vữa mạch quốc tế (IAS) và Hiệp hội nghiên cứu về béo phì quốc tế (IASO) ra tuyên bố đồng thuận trên toàn thế giới về các tiêu chí của HCCH, trong bản đồng thuận này, béo bụng không phải là một thành phần bắt buộc của HCCH và được chấp nhận trên toàn thế giới [15]. Cơ chế bệnh sinh, đặc điểm dịch tể lâm sàng, chẩn đoán, điều trị 1. Cơ chế bệnh sinh HCCH được công nhận là một trạng thái tiền viêm và tiền xơ vữa với sự gia tăng mô mỡ (hiện được coi là cơ quan nội tiết), đề kháng insulin là nguyên nhân chính gây bệnh.

Mức độ hoạt động thể lực thấp và lượng calo tương đối cao trong chế độ ăn góp phần tích tụ chất béo trong cơ thể và kháng lại các hoạt động của insulin. Sự dư thừa chất béo sẽ làm cho các tế bào mỡ phì đại và tăng sản, dẫn đến trạng thái thiếu oxy khi nguồn cung cấp máu phát triển không kịp đáp ứng. Thiếu oxy dẫn đến hoại tử tế bào với thâm nhiễm đại thực bào và sản xuất các cytokine có nguồn gốc từ mô mỡ, trong đó có yếu tố hoại tử u -α (TNF- α), interleukin (IL-6), plasminogen activator inhibitor-1 (PAI-1), adiponectin, ngoài ra còn leptin, resistin, visfatin, monocyte chemoattractantprotein-1, protein - 4 liên kết retinol, protein liên kết acid béo. Mức độ béo phì tăng liên quan đến việc tăng nồng độ của những cytokine tiền viêm này [16].

Insulin được tiết ra bởi tế bào beta của đảo tụy Langerhans, hoạt động thông qua thụ thể glycoprotein nằm trong các cơ quan đích. Insulin liên kết với tiểu đơn vị α ngoại bào của thụ thể insulin, thông quá các cơ chế kích hoạt nội bào, làm ức chế phân giải lipid [16]. Yếu tố chính dẫn đến kháng insulin là sự dư thừa các acid béo lưu hành trong máu, các acid béo này do các enzyme lipase phân giải triglyceride hoặc 6 lipoprotein giàu triglyceride trong các mô. Insulin có tác dụng ức chế lipase và khi kháng insulin dẫn đến tăng phân giải lipid, tạo ra nhiều acid béo hơn và càng gia tăng tình trạng kháng insulin.

Sự gia tăng nồng độ các acid béo tự do tại gan dẫn đến tăng sản xuất glucose, triglyceride và tiết ra các VLDL. Các bất thường liên quan đến lipid/lipoprotein bao gồm giảm HDL-C và tăng số lượng LDL-C. Sự gia tăng glucose trong máu, và ở một mức độ nào đó là tăng các acid béo tự do, làm tăng bài tiết insulin của tuyến tụy, dẫn đến tăng insulin máu. Tăng insulin máu có thể dẫn đến tăng cường tái hấp thu natri và tăng cường hoạt động của hệ thần kinh giao cảm (SNS) góp phần vào việc THA, cũng như tăng mức các acid béo tự do lưu hành [8].

Kết quả của sự gia tăng triglyceride máu là sự rối loạn lipid máu biểu hiện qua tăng tổng hợp LDL-C, gia tăng thanh thải HDL-C, làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch. Nồng độ HDL-C giảm cũng được cho là hậu quả của sự giảm sút các ATP-1, yếu tố làm trung gian vận chuyển cholesterol ở tế bào ngoại vi [17]. Yếu tố hoại tử u –α (TNF- α), một cytokine tiền viêm được đặt tên theo hoạt động chống khối u của nó, liên quan nhiều tình trạng bệnh lý tim mạch, bao gồm xơ vữa động mạch và suy tim. TNF- α hoạt động như một chất trung gian hóa học tương tự hormon làm giảm đề kháng insulin trong tế bào mỡ [18].

TNF-α làm giảm sự ức chế sản xuất glucose ở gan do insulin, tăng tổng hợp acid béo và cholesterol, tăng sản xuất VLDL ở gan và tăng phân giải lipid của tế bào mỡ. Tăng phân giải lipid làm tăng nồng độ các acid béo không được ester hóa (NEFA), điều này cũng kích thích và cung cấp chất nền để tổng hợp chất béo trung tính ở gan, để tăng tiếp tục tạo và giải phóng VLDL. Tăng nồng độ NEFA huyết tương cũng gây giảm sự hấp thu và quá trình oxy hóa glucose. Do đó, tăng nồng độ NEFA và tăng TNF-α góp phần vào rối loạn lipid máu và ĐTĐ, cụ thể là tăng nồng độ chất béo trung tính trong huyết tương lúc đói, giảm HDL-C và tăng LDL-C, góp phần làm tăng glucose huyết tương [8].

IL-6 là cytokine đóng vai trò quan trọng vai trò trong cơ chế bệnh sinh 7 của kháng insulin và ĐTĐ typ 2. IL-6 và các cytokine khác tăng cường sản xuất glucose, VLDL ở gan, THA và kháng insulin ở cơ. Mức IL-6 tăng cao trong mô mỡ của bệnh nhân (BN) ĐTĐ và béo phì. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy nồng độ IL-6 tăng lên liên quan đến THA, xơ vữa động mạch và các biến cố tim mạch [19].

PAI-1 là một chất ức chế protease serine có tác dụng ức chế plasminogen ở mô và là chất tiền huyết khối (prothrombotic). PAI-1 lưu hành tăng ở BN HCCH béo phì, ĐTĐ typ 2, và có mối tương quan thuận giữa mức độ nặng của HCCH và nồng độ PAI-1 trong huyết tương. PAI-1 cũng tham gia vào phát triển mô mỡ và kiểm soát tín hiệu insulin [20]. Adiponectin là một phân tử quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của HCCH.

Adiponectin được tiết ra bởi các tế bào mỡ và có chức năng trong việc nhạy cảm với insulin, chống hình thành xơ vữa và giãn mạch [21]. Nồng độ cao của các cytokine kích thích gan sản xuất protein phản ứng C (CRP). Các cytokin này tạo ra phản ứng viêm trong thành mạch, với sự lưu hành của CRP và các yếu tố viêm khác có vai trò trong tiên lượng bất lợi về bệnh tim mạch và gia tăng nguy cơ ĐTĐ type 2 ở người có hoặc không mắc HCCH. Do đó, sinh lý bệnh của sự đề kháng insulin, HCCH và xơ vữa động mạch có nguồn gốc từ viêm [17].

Kháng leptin cũng có vai trò trong HCCH. Leptin giảm sự thèm ăn, thúc đẩy tiêu hao năng lượng và tăng nhạy insulin, leptin có thể điều chỉnh chức năng tim mạch thông qua cơ chế phụ thuộc vào nitric oxide. Có bằng chứng về sự đề kháng leptin trong não và các mô khác dẫn đến viêm, kháng insulin, tăng lipid máu và nhiều rối loạn tim mạch như THA, xơ vữa động mạch [8]. Giả thuyết stress oxy hóa giải thích sự liên quan giữa HCCH và quá trình lão hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu hội chứng chuyển hóa và hiệu quả can thiệp tại Bệnh viện Đa khoa Kon Tum là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích và đánh giá hội chứng chuyển hóa, một vấn đề sức khỏe phổ biến liên quan đến các bệnh lý như tiểu đường, béo phì và tim mạch. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tỷ lệ mắc bệnh mà còn đề xuất các biện pháp can thiệp hiệu quả, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các chuyên gia y tế, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em tại Lào Cai, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn chi tiết về tình trạng suy dinh dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng. Ngoài ra, Luận văn về tự kỳ thị ở bệnh nhân HIV tại Hà Nội cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về các vấn đề tâm lý xã hội liên quan đến bệnh nhân. Cuối cùng, Luận văn về ô nhiễm PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam sẽ mang đến thông tin về các nguy cơ sức khỏe từ môi trường, bổ sung góc nhìn toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe con người.