Luận án tiến sĩ hồi chỉ zéro trong hội thoại qua một số truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu việt nam từ 1986 đến 2000

Khám phá luận án tiến sĩ về hồi chỉ zéro trong hội thoại qua các tác phẩm văn học Việt Nam từ 1986 đến 2000, phân tích sâu sắc và phong phú.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

169
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Hồi Chỉ Zéro Khái Niệm Bối Cảnh

Nghiên cứu về hồi chỉ zéro trong ngôn ngữ họcvăn học đang ngày càng phát triển. Từ những manh nha đầu tiên ở Hy Lạp cổ đại với khái niệm "paraphrasis", đến những công trình của F. de Saussure về ngôn ngữ và lời nói, hồi chỉ dần được định hình. Các nhà nghiên cứu như S. Lyons, George Yule, và Gilliam Brown đã góp phần làm sáng tỏ hiện tượng này. Brown nhấn mạnh hồi chỉ là phép liên kết quy chiếu nội hướng, chỉ vào trong văn bản, với tần suất sử dụng cao hơn ngoại chỉ. Gần đây, Gast & Koning (2008) so sánh hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Đức, chỉ ra sự khác biệt ngữ dụng trong các đại từ.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Nghiên Cứu Hồi Chỉ Zéro Toàn Cầu

Nghiên cứu hồi chỉ zéro trải qua nhiều giai đoạn, từ ngôn ngữ học câu đến ngôn ngữ học văn bản, và gần đây là phân tích diễn ngôn. Phân tích diễn ngôn phát triển mạnh mẽ trong 50 năm qua, với nhiều tên gọi khác nhau. Giai đoạn đầu tập trung vào liên kết, với các công trình của Halliday và Hassan (1976). Giai đoạn sau quan tâm đến mạch lạc và cấu trúc, nhấn mạnh ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội – văn hóa. Sự phát triển này cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu hồi chỉ zéro trong giao tiếp.

1.2. Hồi Chỉ Zéro Từ Ngữ Pháp Văn Bản Đến Phân Tích Diễn Ngôn

Khi văn bản được biết đến rộng rãi vào năm 1970, các nhà nghiên cứu nhận thấy cần xem xét ngữ nghĩa của câu trong môi trường rộng lớn hơn là văn bản. Văn bản có kết cấu hình thức và nội dung ngữ nghĩa, hướng người đọc đến một tư tưởng, một chủ đề xuyên suốt. Điều này dẫn đến nhận định văn bản có tính liên kết. Các nhà ngôn ngữ đã đặt cho hồi chỉ zéro những tên gọi khác nhau như cách nói rút gọn, cách dồn nén thông tin, cách hồi cố, và xem nó như một hiện tượng ngôn ngữ cấu thành tính liên kết của văn bản.

II. Nghiên Cứu Hồi Chỉ Zéro Tại Việt Nam Tổng Quan Đánh Giá

Tại Việt Nam, nghiên cứu hồi chỉ zéro chưa được chú trọng nhiều như trên thế giới. Tuy nhiên, một số công trình đã đề cập đến hiện tượng này dưới góc độ liên kết văn bản, phép tỉnh lược, hoặc phép quy chiếu. Các nhà nghiên cứu Việt Nam thường tiếp cận hồi chỉ zéro trong phân tích diễn ngônphân tích văn học, nhằm làm sáng tỏ cách thức tổ chức ngôn ngữ và ý nghĩa của nó trong tác phẩm. Việc nghiên cứu hồi chỉ zéro trong hội thoại qua truyện ngắntiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2000 còn khá mới mẻ và cần được đầu tư hơn.

2.1. Các Công Trình Nghiên Cứu Tiêu Biểu Về Hồi Chỉ Zéro Ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu về hồi chỉ zéro ở Việt Nam thường nhắc đến nó như một phép liên kết văn bản (phép liên kết tỉnh lược, phép quy chiếu). Tuy vậy, còn nhiều vấn đề tiềm ẩn trong cách tổ chức ngôn ngữ này cần được bàn bạc một cách thấu đáo. Đó là vấn đề của liên kết quy chiếu: miêu tả phép tỉnh lược với dấu hiệu liên kết đặc thù là hồi chỉ bằng lược tố zéro chứ không phải bằng một dấu hiệu liên kết khác.

2.2. Ứng Dụng Phân Tích Diễn Ngôn Trong Nghiên Cứu Văn Học Việt Nam

Phân tích diễn ngôn đang được ứng dụng nhiều vào phân tích cách thức tổ chức ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, trong đó có những trường hợp sử dụng tần số cao các phép quy chiếu trong đó có hồi chỉ. Dưới góc độ là một cách tổ chức ngôn ngữ trong phân tích diễn ngôn, hồi chỉ zéro là một phép liên kết được dùng gắn liền với khái niệm quy chiếu nghĩa là các phương tiện ngôn ngữ khác nhau giúp cho các câu, các đoạn lớn hơn câu nối lại với nhau về mặt nghĩa.

III. Phương Pháp Phân Tích Hồi Chỉ Zéro Trong Hội Thoại Văn Học

Để phân tích hồi chỉ zéro trong hội thoại qua truyện ngắntiểu thuyết Việt Nam, cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp. Phương pháp miêu tả ngôn ngữ giúp khảo sát, phân tích đặc điểm của các loại hồi chỉ zéro. Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng để phân tích giá trị ngữ nghĩa, giá trị dụng học, giá trị liên kết của hồi chỉ zéro. Phương pháp suy luận chỉ ra những nét nghĩa hàm ẩn khi hồi chỉ zéro xuất hiện. Phương pháp mô hình hóa cấu trúc dùng để mô hình hóa cấu trúc ngữ pháp của các loại hồi chỉ zéro. Cuối cùng, thủ pháp thống kê, phân loại giúp tìm ra số lượng của từng loại lược tố zéro.

3.1. Miêu Tả Ngôn Ngữ Phân Tích Đặc Điểm Của Hồi Chỉ Zéro

Phương pháp miêu tả ngôn ngữ được sử dụng trong khảo sát, phân tích đặc điểm của các loại hồi chỉ zéro về chức năng, về quan hệ giữa lược tố zéro và tiền tố, về cấu trúc của hồi chỉ zéro trong hội thoại. Phương pháp này giúp làm rõ bản chất và vai trò của hồi chỉ zéro trong việc tạo nên sự mạch lạc và liên kết trong văn bản.

3.2. Phân Tích Diễn Ngôn Giải Mã Giá Trị Ngữ Nghĩa Ngữ Dụng

Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng để phân tích giá trị ngữ nghĩa, giá trị dụng học, giá trị liên kết, … của các loại hồi chỉ zéro trong hội thoại. Phương pháp này giúp hiểu được ý nghĩa sâu xa và tác động của hồi chỉ zéro đến người đọc, cũng như cách nó được sử dụng để thể hiện ý đồ của tác giả.

3.3. Ứng Dụng Siêu Chức Năng Ngôn Ngữ Để Đánh Giá Hồi Chỉ Zéro

Luận án ứng dụng hệ thống lí thuyết phân tích diễn ngôn, lí thuyết chức năng hệ thống xem xét cách tổ chức ngôn ngữ có hồi chỉ zéro khi nghiên cứu trường hợp ngữ liệu ở các truyện ngắntiểu thuyết Việt Nam tiêu biểu từ 1986 đến 2000. Từ đó làm phong phú thêm hệ thông lí luận đã được các nhà ngôn ngữ trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều ngôn ngữ khác. Đồng thời đề xuất cách phân tích tác phẩm văn chương trong nhà trường từ góc độ tổ chức ngôn ngữ.

IV. Phân Loại Hồi Chỉ Zéro Trong Hội Thoại Cách Tiếp Cận Mới

Luận án tập trung phân loại hồi chỉ zéro trong hội thoại dựa trên vị trí ngữ pháp mà nó tương đương (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ). Ngoài ra, luận án cũng xem xét hồi chỉ zéro phức và hồi chỉ zéro là sự im lặng. Việc phân loại này giúp hiểu rõ hơn về chức năng và vai trò của từng loại hồi chỉ zéro trong việc tạo nên sự đa dạng và phong phú của ngôn ngữ văn học. Đặc biệt, việc nghiên cứu hồi chỉ zéro là sự im lặng mở ra một hướng tiếp cận mới trong việc phân tích hội thoại.

4.1. Hồi Chỉ Zéro Đơn Tương Đương Chủ Ngữ Vị Ngữ Bổ Ngữ

Luận án phân loại hồi chỉ zéro đơn dựa trên vị trí ngữ pháp mà nó tương đương, bao gồm chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ. Việc phân loại này giúp xác định rõ vai trò và chức năng của hồi chỉ zéro trong việc lược bỏ các thành phần câu, tạo nên sự ngắn gọn và súc tích cho hội thoại.

4.2. Hồi Chỉ Zéro Phức Đặc Điểm Phân Loại Chi Tiết

Hồi chỉ zéro phức là một loại hồi chỉ zéro đặc biệt, có cấu trúc phức tạp và mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Luận án đi sâu vào phân tích đặc điểm và phân loại hồi chỉ zéro phức, giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng và phong phú của hiện tượng này trong hội thoại.

4.3. Hồi Chỉ Zéro Là Sự Im Lặng Ý Nghĩa Giá Trị Biểu Đạt

Hồi chỉ zéro là sự im lặng là một hiện tượng thú vị và đầy ý nghĩa trong hội thoại. Luận án nghiên cứu về ý nghĩa và giá trị biểu đạt của hồi chỉ zéro là sự im lặng, cho thấy sự im lặng không phải lúc nào cũng vô nghĩa, mà có thể mang những thông điệp sâu sắc và tinh tế.

V. Giá Trị Của Hồi Chỉ Zéro Siêu Chức Năng Ngôn Ngữ Văn Học

Hồi chỉ zéro không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ đơn thuần, mà còn mang nhiều giá trị quan trọng trong văn học. Nó thể hiện siêu chức năng kinh nghiệm (tạo tính ngắn gọn, tránh lặp lại, duy trì và phát triển đề tài), siêu chức năng liên nhân (thể hiện thông tin cũ, tiêu điểm hóa thông tin, thể hiện thông tin ngầm ẩn, thể hiện tính cách nhân vật), và siêu chức năng liên văn bản (thể hiện cách tổ chức ngôn ngữ tác phẩm, thể hiện giọng điệu trần thuật). Việc phân tích giá trị của hồi chỉ zéro giúp hiểu sâu sắc hơn về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của các nhà văn.

5.1. Hồi Chỉ Zéro Thể Hiện Siêu Chức Năng Kinh Nghiệm Chi Tiết

Hồi chỉ zéro thể hiện siêu chức năng kinh nghiệm thông qua việc tạo tính ngắn gọn cho phát ngôn, tránh lặp lại từ ngữ nặng nề, đa dạng hóa văn bản, duy trì đề tài hội thoại, phát triển đề tài hội thoại, và tạo tính lôgic cho các phát ngôn trong hội thoại.

5.2. Hồi Chỉ Zéro Thể Hiện Siêu Chức Năng Liên Nhân Phân Tích

Hồi chỉ zéro thể hiện siêu chức năng liên nhân thông qua việc thể hiện thông tin cũ trong phát ngôn, tiêu điểm hóa thông tin trong phát ngôn, thể hiện nội dung thông tin ngầm ẩn, và thể hiện thông tin về các kiểu tính cách nhân vật.

5.3. Hồi Chỉ Zéro Thể Hiện Siêu Chức Năng Liên Văn Bản Ví Dụ

Hồi chỉ zéro thể hiện siêu chức năng liên văn bản thông qua việc thể hiện cách tổ chức ngôn ngữ tác phẩm và thể hiện giọng điệu trần thuật độc đáo của tác giả. Điều này cho thấy hồi chỉ zéro không chỉ là một yếu tố ngôn ngữ, mà còn là một công cụ nghệ thuật giúp tác giả thể hiện phong cách và cá tính sáng tạo của mình.

VI. Kết Luận Hồi Chỉ Zéro Hướng Nghiên Cứu Văn Học Tương Lai

Nghiên cứu hồi chỉ zéro trong hội thoại qua truyện ngắntiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2000 mang lại những đóng góp quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn. Luận án làm rõ giá trị liên kết, giá trị ngữ nghĩa và giá trị ngữ dụng của hồi chỉ zéro. Kết quả nghiên cứu là một gợi mở cho việc phân tích diễn ngôn văn chương và giảng dạy, phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường thông qua cách tổ chức ngôn ngữ của phép tỉnh lược. Hướng nghiên cứu này có tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai, góp phần làm phong phú thêm nghiên cứu văn học Việt Nam.

6.1. Đóng Góp Của Nghiên Cứu Về Hồi Chỉ Zéro Trong Văn Học

Luận án làm rõ giá trị liên kết, giá trị ngữ nghĩa và giá trị ngữ dụng của hồi chỉ zéro trong phân tích hội thoại hay phân tích diễn ngôn. Chỉ ra một phương tiện ngôn ngữ trong tổ chức phát ngôn, cũng như trong tổ chức diễn ngôn có những giá trị khác nhau dưới ánh sáng của 3 siêu chức năng ngôn ngữ trong phân tích diễn ngôn.

6.2. Ứng Dụng Triển Vọng Của Nghiên Cứu Hồi Chỉ Zéro

Kết quả nghiên cứu của luận án là một gợi mở cho việc phân tích diễn ngôn văn chương và giảng dạy, phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường thông qua cách tổ chức ngôn ngữ của phép tỉnh lược. Cung cấp hệ thống ngữ liệu làm minh chứng cho việc phân tích hội thoại/ phân tích diễn ngôn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

08/06/2025
Luận án tiến sĩ hồi chỉ zéro trong hội thoại qua một số truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu việt nam từ 1986 đến 2000

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về hồi chỉ và hồi chỉ zéro trên thế giới Hồi chỉ được manh nha nghiên cứu từ thời cổ đại Hy Lạp dưới tên gọi Latin là “paraphrasis”, mang ý nghĩa “cộng thêm một cách, một dạng của biểu thức”[Dẫn theo 71, tr. Và đặc biệt, đến công trình nghiên cứu của ông tổ ngành ngôn ngữ học cấu trúc F.

de Saussure thì nó được xem như một dạng đối lập giữa ngôn ngữ và lời nói. Tiếp theo là hàng loạt những ngầm định công nhận có một dạng biến thể của câu trong đó có phát ngôn tỉnh lược như: S. Lyons 1995, George Yule (1997),. Gilliam Brown (1991) trong Phân tích diễn ngôn do Trần Thuần dịch (2002) xem hồi chỉ là phép liên kết quy chiếu nội hướng tức là nó không chỉ ra ngoài mà chỉ vào trong lòng văn bản.

Đó là quan hệ ngược hướng với phần văn bản trước đó. Ông khẳng định, với hướng này, các yếu tố hồi chỉ có tần xuất sử dụng cao so với ngoại chỉ. Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cũng chú ý nhiều đến liên kết hồi chỉ. Gast & Koning (2008) đã so sánh phương tiện hồi chỉ giữa tiếng Anh và tiếng Đức trong công trình“Sentence Anaphora in English and German”, Freie University Berlin 2008.[124] và chỉ ra những khác biệt trong các đại từ chúng tôi, chúng ta như những biểu thức hồi chỉ mang tính ngữ dụng.

Trên thế giới, hồi chỉ zéro được nghiên cứu trong các chuyên ngành ngôn ngữ từ ngôn ngữ học về câu đến ngôn ngữ học văn bản, gần đây là phân tích diễn ngôn. Phân tích diễn ngôn đã trải qua một thời gian phát triển mạnh mẽ trong khoảng 50 năm gần đây, dưới nhiều tên gọi khác nhau như ngôn ngữ học văn bản, 7 phân tích văn bản, phân tích chức năng,. với đối tượng nghiên cứu khác nhau. Ở giai đoạn ngôn ngữ học văn bản phân tích diễn ngôn chủ yếu quan tâm đến liên kết với hàng loạt công trình nghiên cứu của Halliday và Hassan (1976) và các công trình nghiên cứu ở Liên xô cũ.

Ở thời kỳ hậu văn bản các vấn đề mạch lạc và cấu trúc được quan tâm nhiều hơn. Vì vậy, lĩnh vực nghiên cứu này có tên là phân tích diễn ngôn để chỉ đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ không phải ở tĩnh trạng mà luôn luôn động trong hoàn cảnh xã hội – văn hóa. Khi văn bản thực sự được biết đến rộng rãi năm 1970 thì tất cả các nhà nghiên cứu đều nhận thấy mọi tìm hiểu về ngữ nghĩa của câu với muôn hình vạn trạng cách biểu hiện khác nhau trong hành chức đều phải được xem xét kĩ lưỡng ở một môi trường rộng lớn hơn là văn bản. Mà đã là văn bản thì hiển nhiên phải có kết cấu hình thức và nội dung ngữ nghĩa.

Nói về hình thức, văn bản phải được trình bày theo một kết cấu nhất định và nói về nội dung, chắc chắn văn bản phải hướng người đọc đến một tư tưởng, một chủ đề xuyên suốt nào đó. Điều đó dẫn đến một nhận định thống nhất: văn bản là một thực thể luôn có tính liên kết. Cùng với đó là khả năng lí giải các hiện tượng ngữ pháp cũng như ngữ nghĩa nào đó tồn tại trong văn bản. Một trong những hiện tượng được nhắc đến thường xuyên là khả năng sử dụng những đơn vị có hình thức đặc biệt, xem nó tồn tại không phải với tư cách riêng lẻ mà nằm trong một chỉnh thể cú pháp trên câu và cuối cùng là nằm trong văn bản.

Bằng những đường hướng lí thuyết này, ở chỗ này hay chỗ khác, trong cách triển khai nội dung các công trình nghiên cứu, các nhà ngôn ngữ đã đặt cho hồi chỉ zéro bằng những tên gọi khác nhau như cách nói rút gọn, cách dồn nén thông tin trong câu đơn, cách hồi cố,. Và xem nó như một hiện tượng ngôn ngữ cấu thành tính liên kết của văn bản. Bàn về vấn đề này đã có những công trình nghiên cứu công phu trên thế giới, tiêu biểu là Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Halliday do Hoàng Văn Vân dịch, Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học của Gal’ perin I. do Hoàng Lộc dịch, Ngữ pháp văn bản của O.

Moskalskaja do Trần Ngọc Thêm dịch,.P, 1987, trong công trình “Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ”, xem văn bản là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, tiếp cận văn bản ở các khía cạnh về tính liên kết, tính hoàn chỉnh, tính liên tục,. Ông cho rằng “cần phải hiểu câu trong một đơn vị lớn hơn là nhất thể trên câu: nhất thể trên câu được hiểu với một mức độ rành mạch ít nhiều, là một nhất thể kết cấu phức gồm trên một câu độc lập, mang tính hoàn chỉnh về ý nghĩa trong văn cảnh của lời nói mạch lạc và có tư cách một phần giao tiếp trọn vẹn” và “cơ sở của mạch lạc liên kết là những đặc điểm khác của kết cấu văn bản, đó chính là hồi cố, hàm nghĩa và chức năng tạo lập văn bản. Sự hồi cố ở đây được biểu đạt thông qua những phương tiện ngôn ngữ chỉ thông tin đã qua, đồng thời cũng nhấn mạnh đến phần thông tin quan trọng ở vị ngữ vì vị ngữ mang cấu trúc thông báo ngữ nghĩa của cả câu. Moskalskaja, 1981, trên ngữ liệu tiếng Đức nghiên cứu rất kĩ chỉnh thể ngữ pháp trên câu, tâm đắc với “khối liên hiệp các câu”[Dẫn theo 28, tr.12] và cho rằng trung tâm sự chú ý của nó không chỉ là sự toàn vẹn của bản thân nó mà còn là các phương pháp phân loại, phân đoạn các ngữ đoạn, qui chúng về những lớp nhất định bằng phương pháp thay thế và cải biến.

Theo đó, ông chỉ ra rằng hiện tượng rút gọn trong câu đã được nghiên cứu kĩ trong ngôn ngữ Đức và các ngôn ngữ khác đồng thời khẳng định: “Cơ sở của việc nén thông tin, tức là việc đưa vào câu một hoặc một tuyến vị thể bằng những mệnh đề được rút gọn, điều đó kéo theo việc phức tạp hóa cấu trúc cú pháp của câu và tăng độ sâu của câu”[28, tr.219] Hồi chỉ được M. Hasan trên ngữ liệu tiếng Anh gọi tên rõ ràng trong “Dẫn luận ngữ pháp chức năng” gắn liền với việc thực hiện tỉnh lược, tức là giả định một thành phần nào đó bị bỏ trống. Ông xem nó là một dạng của phép thế, gắn liền với phép thế. Nên “tỉnh lược và thay thế cả cú xuất hiện điển hình trong một chuỗi hội thoại nơi mà trong câu trả lời mọi thứ đều bị lược bỏ trừ thành phần mang thông tin”[36, tr.

Và một trong những phân tích quan trọng của Halliday là sự qui chiếu nhằm tạo ra liên kết văn bản bằng 3 hướng: hồi chỉ, ngoại chỉ và so sánh. Tình hình nghiên cứu hồi chỉ và hồi chỉ zéro ở Việt Nam Ở Việt Nam vấn đề hồi chỉ và hồi chỉ zéro thường được nghiên cứu chủ yếu gắn liền với vấn đề tỉnh lược (ellipsis). Liên quan tới hồi chỉ và hồi chỉ zéro trong diễn ngôn cũng như trong hội thoại cho đến nay có thể liệt kê ra hàng loạt những công trình của các tác giả trong và ngoài nước như: Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Chí Hòa, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Thiện Giáp, Phạm Văn Tình, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Hòa, Bùi Minh Toán, Trần Kim Phượng,. Cách tiếp cận chủ yếu của các tác giả là mở rộng phạm vi phân tích cấu trúc câu đến phân tích đơn vị lớn hơn câu và qui tắc kết hợp chuỗi câu để tạo thành diễn ngôn.

Và điểm cốt yếu làm cho một chuỗi câu trở thành diễn ngôn là mạch lạc và mạng mạch. “Phân tích diễn ngôn (discourse analysis) là cách tiếp cận thuộc phương pháp luận (chưa được đồng thuận xác nhận là một lý thuyết) đối với việc phân tích ngôn ngữ bậc trên câu, bao gồm các tiêu chuẩn như “liên kết” (cohesion – gồm hồi chiếu, thay thế), “mạch lạc”(coherence), “mạng mạch” (texture) v.v, có tính đến mối quan hệ với tình huống bên ngoài và các quy ước xã hội ảnh hưởng đến giao tiếp trong việc sử dụng ngôn ngữ”.401] Mặc dù hồi chỉ zéro không được gọi tên rõ ràng trong các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nhưng rất nhiều tác giả cho rằng các phát ngôn có chứa ngữ đoạn hồi chỉ zéro chính là phát ngôn tỉnh lược. “Tỉnh lược được coi là thế bằng zéro”[3, tr.186]; “Tỉnh lược là bỏ một ngữ đoạn mà sự có mặt không cần thiết. Nói một cách khác, đó là một phép thay thế một ngữ đoạn bằng đại từ hồi chỉ zéro” [39, tr.365]; “Tỉnh lược là một dạng của hồi chỉ.

Đó là hồi chỉ zéro” [29, tr. Vì vậy, về bản chất, hồi chỉ zéro chính là ngữ đoạn bị tỉnh lược trong phát ngôn trực thuộc (câu dưới bậc, câu rút gọn, câu tỉnh lược,. Đỗ Hữu Châu cũng xem hồi chỉ zéro là phương thức liên kết tỉnh lược và chỉ ra rằng “Trong hoạt động giao tiếp, dựa vào tình huống hoặc ngữ cảnh, người ta có thể lược một hoặc một vài yếu tố nào đó. Yếu tố đó đã được tình huống hoặc ngữ cảnh cho biết rõ… Khi lĩnh hội, người ta phải dựa vào câu đi trước để có thể hiểu được yếu tố bị tỉnh lược.

Nhờ thế các câu liên kết được với nhau. Do đó có thể gọi đây là sự hồi chỉ zéro.146] 10 Trong các công trình của mình, các tác giả đều thống nhất cho rằng một câu được coi là câu tỉnh lược khi một trong hai thành phần nòng cốt của câu bị lược bỏ, có thể là chủ ngữ, có thể là vị ngữ hoặc có thể là cả cụm chủ vị (trong cấu trúc chủ - vị hoặc cấu trúc đề - thuyết). Tuy nhiên, cách tiếp cận về câu tỉnh lược thì vẫn còn đi theo nhiều luận giải khác nhau. Xét một cách tổng thể, nghiên cứu của các tác giả kể trên có thể quy về hai xu hướng chính: Thứ nhất, nghiên cứu hồi chỉ zéro, hay tỉnh lược bằng không, được nhìn nhận từ góc độ phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu trên cơ sở các thành phần: chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ,.

khi không đặt câu vào ngữ cảnh, môi trường sinh động cho việc hiểu nghĩa của nó. Tiêu biểu cho xu hướng nghiên cứu này là các tác giả: Nguyễn Kim Thản; Hoàng Trọng Phiến; Nguyễn Minh Thuyết; .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hồi Chỉ Zéro Trong Hội Thoại Qua Truyện Ngắn Và Tiểu Thuyết Việt Nam (1986-2000)" mang đến cái nhìn sâu sắc về cách thức hồi chỉ zéro được sử dụng trong các tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn này. Tác giả phân tích các yếu tố ngữ nghĩa và nghệ thuật trong việc xây dựng nhân vật và tình huống, từ đó làm nổi bật sự phát triển của ngôn ngữ và phong cách viết trong văn học đương đại. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp và biểu đạt cảm xúc trong văn học, cũng như cách mà các tác giả đã phản ánh thực tại xã hội qua lăng kính nghệ thuật.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ văn học tiểu thuyết về chiến tranh việt nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học qua ăn mày dĩ vãng của chu lai nỗi buồn chiến tranh của bảo ninh và thời xa vắng của lê lựu, nơi khám phá các khía cạnh khác của văn học chiến tranh. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn tiểu thuyết về chiến tranh trong văn học việt nam sau 1975 những khuynh hướng và d sự đổi mới nghệ thuật cũng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về các xu hướng và sự đổi mới trong nghệ thuật văn học sau 1975. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về văn học Việt Nam trong bối cảnh lịch sử và xã hội.