MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp, khí hậu nhiệt đới, có tổng diện tích đất nông nghiệp và lâm nghiệp vào khoảng 20 triệu ha, trong đó diện tích gieo trồng khoảng 14 triệu ha.Thời tiết nóng ẩm quanh năm, mưa nhiều là điều kiện thuận lợi để cây trồng phát triển, nhưng đồng thời cũng là điều kiện để côn trùng gây hại, nấm bệnh và cỏ dại nảy nở sinh sôi. Trong các dịch hại gây hại cây trồng thì bệnh hại do nấm gây ra chiếm tới 80%. Phổ biến là các loại bệnh nấm đa thực gây hại mạnh trên nhiều loại cây trồng khác nhau như Botrytis cineria, Erysiphe graminis, Phytophthora infestans và Rhizoctonia solani.
Trước tình hình đó, người dân đã dùng thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp để phòng trừ dịch hại. Tuy nhiên, hiện tượng sử dụng tràn lan, sai mục đích, không tuân thủ các quy trình sử dụng an toàn và gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí với thời gian tồn dư lâu dài, ảnh hưởng đến hệ sinh thái nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng. Nhiều thuốc BVTV nguồn gốc tổng hợp hóa học có khả năng gây ung thư, biến đột gen, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường. Một số loại thuốc BVTV bị cấm sử dụng như carbendazim, diifenoconazole, tubeconazole, cabofuran, azodrin,….Vì vậy phải chú trọng sử dụng hoạt chất mới, ít độc hại, thân thiện môi trường, có nguồn gốc vi sinh và được chiết tách từ thảo mộc.
Xuất phát từ tính cấp thiết trong thực tiễn cuộc sống cần phải tạo ra các thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: ― ghiên cứu quá trình tách chiết m t số hợp chất phenolic từ ba loài đại hoàng (Rheum tanguticum Maxim. ex Balf lưỡi bò (Rumex trisetifer Stokes muồng trâu (Senna alata (L. hoạt tính háng vi sinh vật gây bệnh thực vật. Mục tiêu của luận án gồm: - Nghiên cứu một số thành phần hóa học từ cây đại hoàng (Rheum tanguticum Maxim.
ex Balf), cây lưỡi bò (Rumex trisetifer Stokes), cây muồng trâu (Senna alata (L. xxii - Đánh giá hoạt tính kháng một số nấm gây bệnh cho cây trồng của cao chiết và chất tách được từ cây đại hoàng (Rheum tanguticum Maxim. ex Balf), cây lưỡi bò (Rumex trisetifer Stokes), cây muồng trâu (Senna alata (L. - Đánh giá hoạt tính kháng một số vi khuẩn gây bệnh cho cây trồng của cao chiết và chất tách được từ cây đại hoàng (Rheum tanguticum Maxim.
ex Balf), cây lưỡi bò (Rumex trisetifer Stokes), cây muồng trâu (Senna alata (L. - Xây dựng tối ưu hóa các quy trình công nghệ chiết xuất tạo cao MeOH từ cây đại hoàng (Rheum tanguticum Maxim. ex Balf), cây muồng trâu (Senna alata (L. 3 ối tƣợng nghiên cứu - Cây đại hoàng (Rheum tanguticum Maxim.
ex Balf), cây lưỡi bò (Rumex trisetifer Stokes), cây muồng trâu (Senna alata (L. Nội dung của luận án gồm: - Nghiên cứu phân lập và xác định cấu trúc một số thành phần hóa học từ cây đại hoàng (Rheum tanguticum Maxim. ex Balf), cây lưỡi bò (Rumex trisetifer Stokes), cây muồng trâu (Senna alata (L.) Roxb): Điều chế cặn chiết, tách các hợp chất bằng phương pháp sắc ký, xác định cấu trúc hóa học bằng các phương pháp hóa lý hiện đại - Thử nghiệm hoạt tính kháng một số nấm gây bệnh cho cây trồng của cao chiết và chất tách được từ cây đại hoàng (Rheum tanguticum Maxim. ex Balf), cây lưỡi bò (Rumex trisetifer Stokes), cây muồng trâu (Senna alata (L.
- Thử nghiệm hoạt tính kháng một số vi khuẩn gây bệnh cho cây trồng của cao chiết và chất tách được từ cây đại hoàng (Rheum tanguticum Maxim. ex Balf) cây lưỡi bò (Rumex trisetifer Stokes), cây muồng trâu (Senna alata (L. - Phân tích định lượng thành phần một số hoạt chất trong cao chiết từ mẫu nghiên cứu bằng phương pháp HPLC. - Nghiên cứu, tối ưu hóa các quy trình công nghệ chiết xuất tạo cao MeOH từ cây đại hoàng (Rheum tanguticum Maxim.
ex Balf), cây muồng trâu (Senna alata (L. 1 ƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Các nghiên cứu về cây đai hoàng Rheum tanguticum Maxim. Giới thiệu về chi Rheum và cây đại hoàng Rheum tanguticum Maxim.
ex Balf Chi Rheum L. thuộc phân họ Polygonoideae với khoảng 60 loài, trong đó có ba nhóm chính là đại hoàng Trung Quốc, đại hoàng Ấn Độ hay Himalaya và đại hoàng Rhapontic. Chi đại hoàng gồm các loài thân thảo sống lâu năm. Rễ cây dài thường phình to dạng củ.
Thân thường rỗng, có rãnh, nhẵn hoặc có lông. Lá đơn, có mép lá dạng lượn sóng, răng cưa hay xẻ thùy chân vịt. Lá cây phía dưới thưa, dày, hoặc xếp hình hoa thị, lớn hơn những lá phía trên, bẹ lá thường lớn; dạng màng mép thường nguyên. Hoa mọc thành chùm đơn hoặc chùm kép, thường hình chùy, hình cầu hoặc hình bông.
Cuống hoa có đốt. Hoa lưỡng tính hoặc đơn tính cùng gốc. Bao hoa sống dai, lá đài 6. Nhị thường 9 (6 + 3), hiếm khi 7 hoặc 8.
Nhụy ngắn, 3 ô nằm ngang; đầu nhụy phình to, mép uốn ngược xuống. Quả bế ba cạnh, có cánh. Giới thiệu về cây đại hoàng Rheum tanguticum Maxim. Cây thảo mộc sống lâu năm nhờ thân rễ to, khỏe.
Thân có rãnh, giữa rỗng, có lông trắng hoặc có gai ở các mấu và phía trên. Lá cây mọc thành cụm từ thân rễ, có kích thước lớn, có cuống dài, có bẹ chìa, phiến lá hình tim rộng 30-40 cm, phân thành 5 đến 7 thùy chính, các thùy này cũng có thể phân lần thứ hai hoặc đôi khi lần thứ ba. Gân lá nổi mặt dưới, thường màu đỏ nhạt. Từ năm thứ 3-4 thì xuất hiện 1 thân mọc lên cao 1-2 m mang một số lá nhỏ.
Phần ngọn thân là chùm hoa hình chùy mang nhiều hoa. Bao hoa gồm 6 bộ phận màu trắng, xanh nhạt, hoặc đỏ nhạt, 9 nhị. Cây ra hoa tháng 5-6, quả tháng 9-10. Nghiên cứu về thành phần hóa học, hoạt tính sinh học cây đại hoàng (Rheum tanguticum Maxim.) trên thế giới 1.
Nghiên cứu về thành phần hóa học của cây đại hoàng trên thế giới. Năm 2005, Peng Tei Tu và cộng sự sử dụng HSSC để tách được trans-3,5,4′- trihydroxystilbene-4′-O-β-D-glucopyranoside (1) và catechin (2) từ rễ cây đại hoàng [1]. Năm 2006, Peng Tei Tu và cộng sự sử dụng sử dụng HPLC-DAD đã xác định được 21 hợp chất trong cây đại hoàng gồm 9 hợp chất anthraquinone và dẫn xuất là 2 chrysophanol (3), physcion (4), emodin (5), rhein (6), aloe-emodin (7), chrysophanol- 8-O-β-D-glucopyranoside (8), aloe-emodin-8-O-β-D-glucopyranoside (9), sennoside A (10), sennoside B (11), 5 hợp chất phenylbutanone glucopyranoside gồm: 4-(4- hydroxyphenyl)-2-butanone (12), lindleyin (13), isolindleyin (14), 4-(4‘- hydroxyphenyl)-2-butanone-4‘-O-β-D-(2‖-O-galloyl-6‖-O-p- coumaroyl)glucopyranoside (15), 4-(4‘-hydroxyphenyl)-2-butanone-4‘-O-β-D-(2‖-O- cinnamoyl-6‖-O-galloyl) glucopyranoside (16), 4 hợp chất stilbene: trans-3,5,4‘- trihydroxystilbene-4′-O-β-D-glucopyranoside (1), trans-3,5,4‘-trihydroxystilbene (resveratrol) (17), , trans-3,5,4′-trihydroxystilbene-4′-O-β-D-(2‖-O-galloyl)- glucopyranoside (18), trans-3,5,4′-trihydroxystilbene-4′-O-β-D-(6‖-O-galloyl)- glucopyranoside (19), 2 hợp chất tannin gồm (−)-epicatechin-3-O-gallate (20), (+)- catechin (2), 1 naphthalene: torachryssone-8-O-β-D-glucopyranoside (21). Năm 2007, Peng Tei Tu cộng sử dụng HPLC kết hợp ESI-MS xác định được 41 hợp chất hóa học trong cây đại hoàng là 16 hợp chất anthraquinone và các dẫn xuất gồm chrysophanol (3), physcion (4), emodin (5), rhein (6), aloe-emodin (7), chrysophanol-8-O-β-D-glucopyranoside (8), physcion-8-O-β-D-glucopyranoside (22), emodin-8-O-β-D-glucopyranoside (23), rehin-8-O-β-D-glucopyranoside (24), aloe- emodin-8-O-β-D-glucopyranoside (9), aloe-emodin-8-O-β-D-(6‘- galloyl)glucopyranoside (25), chrysophanol-8-O-β-D-(6‘-O-β-D-glucopyranosyl) glucopyranoside (26), sennoside A (10), sennoside B (11), sennoside C (27), sennoside D (28), 7 hợp chất phenylbutanone glucopyranoside gồm 4-(4‘-hydroxyphenyl)-2- butanone-4‘-O-β-D-glucopyranoside (29) , isolindleyin (14), lindleyin (13), 4-(4‘- hydroxyphenyl)-2-butanone-4‘-O-β-D-(2‘-O-galloyl-6‘-O-galloyl)glucopyranoside (30), 4-(4‘-hydroxyphenyl)-2-butanone-4‘-O-β-D-(6‖-O-p-coumaroyl)glucopyranoside (31), 4-(4‘-hydroxyphenyl)-2-butanone-4‘-O-β-D-(2‖-O-galloyl-6‖-O-p- coumaroyl)glucopyranoside (15), 4-(4‘-hydroxyphenyl)-2-butanone-4‘-O-β-D-(2‖-O- cinnamoyl-6‖-O-galloyl) glucopyranoside (16), 4 hợp chất stilbene: trans-3,5,4′- trihydroxystilbene-4′-O-β-D-glucopyranoside (1), trans-3,5,4′-trihydroxystilbene (17), trans-3,5,4′-trihydroxystilbene-4′-O-β-D-(2‘-O-galloyl) glucopyranoside (18), trans- 3,5,4′-trihydroxystilbene-4′-O-β-D-(6‘-O-galloyl) glucopyranoside (19) và 12 hợp chất tannin: gallic acid (32), 1-O-galloylglucose (33), gallic acid 4-O-β-D-glucopyranoside 3 (34), gallic acid 3-O-β-D-glucopyranoside (35), gallic acid 3-O-β-D-(2‘-O- galloyl)glucopyranoside (36), gallic acid 4-O-β-D-(6‘-O-galloyl)glucopyranoside (37), 1,2,6-tri-O-galloyl-glucose (38), 2-O-cinnamoyl-1,3-di-O-galloyl-glucose (39), 2-O- cinnamoyl-1-O-galloyl--glucose (40), (+)-catechin (2), (-)-epicatechin-3-O-gallate (20), procyanidin B (41), 2 hợp chất naphthalene: torachryssone-8-O-β-D- glucopyranoside (21), 6-hydroxymusizin-8-O-β-D-glucopyranoside (42) [2].
Năm 2012, Xiao-Hui Zhao và các cộng sự đã sử dụng HSCCC để tách ra được 3 hợp chất stilbene là trans-rhapontin (43), cis-rhapontin (44) and trans- desoxyrhaponticin (45) [3] Năm 2012, Xudong Xu và các cộng sự đã tách ra từ rễ cây đại hoàng đoàng 8 hợp chất gồm 2 hợp chất naphthalene glycoside là 6-hydroxymusizin-8-O-β-D- glucopyranoside (42), torachrysone-8-O-β-D-glucopyranoside (21), 3 hợp chất phenylbutanone glucopyranoside:4-(4′-hydroxyphenyl)-2-butanone-4′-O-β-D-(2″-O- galloyl)-glucopyranoside (isolindleyin ) (14), 4-(4′-hydroxyphenyl)-2-butanone 4′-O- β-D-(6″-O-cinnamoyl)-glucopyranoside (31), 4-(4′-hydroxyphenyl)-2-butanone-4′-O- β-D-(2″-O-galloyl-6″-O-cinnamoyl)-glucopyranoside (15) và 3 dẫn xuất cinnamic acid là trans-cinnamic acid (46), p-coumaric acid glucoside (47), 4- hydroxybenzenepropanoic acid methyl ester (48) [4]. Năm 2014, Seng Li Wei và các cộng sự sử dụng kỹ thuật RP-HPLC đã xác định được các thành phần anthraquinones tự do (rhein (6), emodin (5), aloe-emodin (7), chrysophanol (3), physcion (4)), anthraquinone glycosides, dianthrones (sennoside A (10), sennoside B (11), flavan-3-ols ((+)-catechin (2)) và gallic acid (32) trong rễ cây đại hoàng. Năm 2016, Yulin Li và các cộng sự đã tách ra được 3 hợp chất anthraquinone glycoside gồm chrysophanol 1-O-β-D-glucoside (58), chrysophanol 8-O-β-D- glucoside (8) và physion 8-O-β-D-glucoside (22) từ cây đại hoàng [7]. Năm 2017, Yulin Li và các cộng sự đã sử dụng HSCCC và HPLC tách được 6 hợp chất là lindleyin (13), isolindleyin (14), resveratrol-4′-O-(2″-O-galloyl)- glucopyranoside (18), resveratrol-4′-O-(6′′-O-galloyl)-glucopyranoside (19), emodin 1-O-β-D-glucoside (59) và 3,5-dihydroxy-4′-methoxy stilbene-3-O-β-D- glucopyranoside (trans-desoxyrhaponticin (45) từ cây đại hoàng [8].
Năm 2021, Wenhua Xu và các cộng sự đã tách ra từ rễ cây đại hoàng được 5 hợp chất anthraquinone bao gồm aloe-emodin (7), rhein (6), emodin (5), chrysophanol (3)và physciol (4) cùng với 5 hợp chất flavonoid bao gồm tricin (60), quercetin-3-O-β- D-glucoside (61), kaempferol-3-O-α-L-rhamnopyranoside (62), rhamnazin (63) và tricin-7-O-β-D-glucopyranoside (64) [9]. Năm 2022, Huilan Yue và các cộng sự đã xác định được từ phần dịch chiết từ rễ cây đại hoàng không chứa poly sarcharide và protein 48 chất gồm 10 hợp chất anthraquinone: emodin (5), rhein (6), aloe emodin 8-O-glucoside (9), aloe emodin 1- O-glucoside (50), emodin 1-O-glucoside (59), emodin 8-O-glucoside (23), chrysophanol 8-O-glucoside (8), emodin (6-acetyl) glucoside (65), physcion 8-O- glucoside (22), rhein 8-O-glucoside (24), 4 hợp chất bianthrones: sennoside A (10), sennoside B (11), sennoside C (27), sennoside G (66); 8 hợp chất flavan: (+)-catechin (2), (-)-epicatechin-3-O-gallate (20), procyanidin B1(67), procyanidin B2 (68), procyanidin B 3-O-gallate I (69), procyanidin B 3-O-gallate II (70), procyanidin B 3,3‘-di-O-gallate (71), 3 hợp chất stilbene: resveratrol 4-O-(2′-O-galloyl) glucoside (18), resveratrol 4-O-(6′-O-galloyl) glucoside (19), resveratrol glucoside (1), 5 hợp chất phenylbutanone: lindleyin (13), isolindleyin (14), hydroxyphenyl butanone (2- 5 galloyl-6-p-coumaroyl) glucoside (15), hydroxyphenyl butanone (2-galloyl-6-feruloyl) glucoside (72), hydroxyphenyl butanone (2-galloyl-6-cinnamoyl) glucoside (73), 2 hợp chất naphthoside là aloesone-7-O-glucoside (74), torachrysone 8-O-glucoside (21), 1 hợp chất chromone là chromone-7-O-(2′-O-galloyl) glucoside (75), 7 hợp chất glucose gallate: gallic acid glucoside (33) , gallic acid (2-O-galloyl) glucoside (76), , gallic acid (6-O-galloyl) glucoside (37), 1,2-digalloyl-6-O-p-coumaroyl-glucoside (77), 1,6- digalloyl-2-O-p-coumaroyl-glucoside (78), digalloyl glucose (79), trigalloyl glucose (38) và 3 hợp chất axit phenolic: protocatechaic acid (80), coumaric acid (81), coumaric acid glucoside (82) bằng phân tích UPLC-Triple-TOF/MS. Các hợp chất anthraquinone và các dẫn xuất từ cây đại hoàng R. Các hợp chất phenylbutanone glucopyranoside từ cây đại hoàng R.
Các hợp chất stilbene từ cây đại hoàng R. Các hợp chất flavol và tannin từ cây đại hoàng R. Các hợp chất dẫn xuất naphthalene từ cây đại hoàng R. Các hợp chất acyl glycoside và hợp chất phenolic khác từ cây đại hoàng R.
Hoạt tính sinh học cây đại hoàng (R.