CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: ĐỊNH THỊ THÚY KIỀU 5 GVHD: ThS. Dương Nhật Linh KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TS. Nguyễn Tấn Phát TỔNG QUAN VỀ VI KHUẨN E. coli phân lập lần đầu tiên bởi Escherich vào năm 1885.
Vi khuẩn này có mặt rất sớm ở đại tràng sau 3 giờ trẻ sinh ra. Bình thường chúng góp phần tiêu hóa thức ăn, phân giải muối mật, giữ thăng bằng hệ vi khuẩn đường ruột. coli chiếm 80% các vi khuẩn hiếu khí ở đại tràng. Trong đường tiêu hóa, E.
coli chiếm khoảng 80% các vi khuẩn hiếu khí. Năm 1885, tại München (Đức), một bác sĩ nhi khoa tên là Theodor Escherich rất quan tâm đến những phát hiện quan trọng của Louis Pasteur và Robert Kock về vi khuẩn. Cùng với việc nghiên cứu bệnh tiêu chảy, Escherich tỏ rõ mối lưu ý tới một vi sinh vật đường ruột trẻ em qua nhiều thí nghiệm lâm sàng. Vi khuẩn do Escherich phát hiện từ trong tã lót của trẻ em được công bố với tên gọi đầu tiên là Bacterium coli commune.
Chỉ 4 năm sau vi khuẩn này được giới chuyên môn đổi tên thành Escherich nhằm tri ân người có công khám phá. Tuy nhiên, nó vẫn được gọi bằng tên Bacillus coli vào năm 1895 và Bacterium coli vào một năm sau đó, Sau nhiều kiểu gọi, đến năm 1991, vi khuẩn mới được định danh thống nhất toàn cầu là E. coli sống ở khắp nơi trong môi trường và đặc biệt phổ biến ở động vật. coli sống trong các bộ phận của cơ thể, chẳng hạn như ruột và đường hô hấp.
Trong ruột, vi khuẩn thường sống hòa bình và giúp tổng hợp các loại vitamin K và B. Hiện nay đã có hàng trăm chủng vi khuẩn E. Chúng được phân loại và đánh số bởi các kháng nguyên. Một số trong các vi khuẩn E.
coli có gen, hoặc thông qua các đột biến hoặc từ các sinh vật khác, cho phép sản xuất chất độc có hại cho con người. Nếu chúng ta ăn phải những dòng vi khuẩn có hại, giống như 0157: H7, chúng có thể gây bệnh bằng cách sản sinh ra những chất độc hóa học mạnh mẽ, hay độc tố. Tuy nhiên, hầu hết các chủng E. coli là vô hại và sống trong ruột của con người và động vật khỏe mạnh.
coli thường được các nhà khoa học sử dụng như một công cụ nghiên cứu cơ bản vì nó phát triển nhanh chóng. Các nhà nghiên cứu sử dụng chúng như một sinh vật mô hình tương tự như vi khuẩn gây bệnh khác. Khi ăn thực phẩm nhiễm E. coli hoặc trực SVTH: ĐỊNH THỊ THÚY KIỀU 6 GVHD: ThS.
Dương Nhật Linh KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TS. Nguyễn Tấn Phát tiếp tiếp xúc với phân có chứa E. coli, vi khuẩn vào cơ thể như dạ dày và ruột non, và thường gắn với bề mặt bên trong của ruột già. Độc tố, hoặc các chất độc tiết ra của vi khuẩn gây sưng thành ruột, gây bệnh đường tiêu hóa nghiêm trọng như viêm ruột kết xuất huyết (Hemorrhagic colitis).
(Nguyễn Thanh Bảo) Phân loại theo khóa phân loại quốc tế Escherichia coli được phân loại như sau: (Dowrkin,2006) Giới: Bacteria Ngành: Proteobacteria Lớp: Gammaproteobacteria Bộ: Enterobacteriaceae Chi: Escherichia Loài: Escherichia coli Hình thái và đặc điểm nuôi cấy Hình thái Trực khuẩn Gram âm, dài hay ngắn tùy thuộc môi trường nuôi cấy. Một số di động, một số lại bất động. Một số có nang. Vi khuẩn không sinh bào tử.
coli có kích thước trung bình 2 – 3 µm x 0,5 µm.1 Hình ảnh nhuộm Gram vi khuẩn E. coli Đặc điểm nuôi cấy E. coli là vi khuẩn hiếu khí hay kị khí tùy nghi, phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường. Nhiệt độ thích hợp là 350C – 370C, tuy nhiên có thể tăng SVTH: ĐỊNH THỊ THÚY KIỀU 7 GVHD: ThS.
Dương Nhật Linh KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TS. Nguyễn Tấn Phát trưởng từ 100C – 460C (Nguyễn Thanh Bảo). Trong môi trường thạch thường, sau 18 – 24 giờ khuẩn lạc có đường kính khoảng 1,5 mm, dạng S: tròn, bờ đều. lồi bóng, không màu hoặc màu xám nhạt.
Có thể gặp khuẩn lạc dạng M hoặc R. coli mọc dễ dàng trên môi trường Maconkey, EMB, … Một số chất ức chế sự phát triển của E. coli như chlorine và dẫn xuất, muối mật, brilliant green, sodium deoxycholate, sodium tetrathionate, selenite, … (Đoàn Thị Nguyện, 2010). Tính chất sinh hóa E.
coli lên men nhiều loại đường, sinh hơi, khử nitrate thành nitrite. coli với vi khuẩn đường ruột khác, người ta thường dùng thử nghiệm IMViC ++-- (Indol, Methyl red, Vosges – Proskauer, Citrate) và thêm một số thử nghiệm sinh hóa khác: KIA (lên men glucose, lactose, không sinh H2S), di động (+). Khả năng gây bệnh Nhiễm khuẩn đường tiểu: 90% trường hợp nhiễm khuẩn đường tiểu lần đầu tiên ở phụ nữ là do E. coli với các triệu chứng tiểu lắc nhắc, tiểu đau, tiểu ra máu, tiểu ra mủ.
Có thể đưa tới nhiễm khuẩn bọng đái, thận, cơ quan sinh dục và nhiễm khuẩn huyết. Nhiễm khuẩn huyết: khi sức đề kháng của cơ thể giảm, vi khuẩn vào máu gây nhiễm khuẩn máu. coli chiếm khoảng 40 % trường hợp gây viêm màng não ở trẻ sơ sinh, 75 % trong số đó có kháng nguyên K1. Tiêu chảy: những chủng E.coli liên quan đến tiêu chảy thuộc các nhóm EPEC, ETEC, EIEC, VTEC.
Tình hình đề kháng kháng sinh Trong những năm gần đây, tốc độ gia tăng tính kháng kháng sinh của vi khuẩn E. coli đã được báo cáo nhiều ở các nước phát triển và cả những nước đang phát triển (Thi Thu Hao Van và cs. Tại Việt Nam, theo số liệu giám sát trong năm 2012 tại bệnh viện Nhiệt đới Trung ương tỉ lệ kháng ampicillin của E. coli lên tới 81,4 %; kháng SVTH: ĐỊNH THỊ THÚY KIỀU 8 GVHD: ThS.
Dương Nhật Linh KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TS. Nguyễn Tấn Phát amoxicillin/clavulanic và ampicillin / sulbactam khoảng 40 %. Các kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 3 cũng bị kháng đến gần một nửa và nhóm fluoro – quinolon cũng bị kháng khoảng 45 % (Trần Thị Thùy Giang và cs, 2014). Tỉ lệ bệnh nhân tử vong liên quan đến nhiễm trùng do E.
coli trên thế giới mỗi năm rất cao và gia tăng. Trong những năm gần đây, các chủng vi khuẩn kháng thuốc ngày càng nhiều và đề kháng kháng sinh do vi khuẩn Gram âm sinh beta-lactamase phổ rộng là vấn đề được quan tâm nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt là E. coli sinh beta-lactamase phổ rộng (E. coli sinh ESBL) (Bùi Thị Lê Minh và cs.
Ở Việt Nam, một số kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy E. coli sinh ESBL hiện diện trên bệnh nhân khá cao. Kết quả khảo sát trực khuẩn Gram âm sinh beta-lactamase phổ rộng phân lập tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ nhiễm vi khuẩn sinh ESBL chiếm 32,4%, trong đó E. coli chiếm tỉ lệ cao 71,2% và các chủng vi khuẩn sinh ESBL đề kháng cao với các nhóm kháng sinh aminoglycosides (trừ amikacin) và fluoroquinolones.
Một nghiên cứu khác tại bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy 174 mẫu phân của bệnh nhân không nhiễm khuẩn tiêu hóa đến khám bệnh có 133 mẫu (76,4%) có vi khuẩn sinh ESBL và chủ yếu là E. coli 65,8% (Võ Thị Chi Mai và ctv. (Bùi Thị Lê Minh và cs., 2018) Theo báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện Việt Nam năm 2008 – 2009, đã cho thấy tỷ lệ sinh ESBL của các chủng E. coli và Klebsiella dao động giữa các bệnh viện, cao nhất ở bệnh viện Nhiệt đới Trung ương với 54,7 % trên E.
coli và 72,7 % Klebsiella (bệnh viện đầu ngành về bệnh truyền nhiễm), sau đó là bệnh viện Chợ Rẫy với 49 % và 58,2 % (bệnh viện đa khoa lơn nhất khu vực phía Nam), bệnh viện Việt Đức với 57,3 % và 48,5 % (bệnh viện chuyên khoa về phẫu thuật), bệnh viện Bình Định và 2 bệnh viện Nhi (Nhi Trung ương và Nhi Đồng I) với tỷ lệ gần 40 % trên E. coli và 50 % trên Klebsiella. Đây cũng là các bệnh viện có tỷ lệ E. coli và Klebsiella kháng cephalosporins thế hệ 3 cao hơn các bệnh viện khác (GARP – Vietnam, 2010).
VI KHUẨN Bacillus SVTH: ĐỊNH THỊ THÚY KIỀU 9 GVHD: ThS. Dương Nhật Linh KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TS. Nguyễn Tấn Phát Lịch sử vi khuẩn Bacillus Vi khuẩn Bacillus có một lịch sử lâu dài và phong phú trong các tiểu sử vi sinh vật. Trong những năm 1870, Ferdinand Cohn, làm việc tại Đại học Breslau, đã cô lập thành công một bacterium nhỏ gọn, linh hoạt, hiếu khí.
Ông đặt tên nó là Bacillus subtilis, có nghĩa là “que mỏng”. Cohn đã mô tả chính xác về chu kỳ sống của Bacillus, chứng minh sự hình thành, khả năng chịu nhiệt, nảy mầm và sự phát triển của endospores (Cohn và cs. Khi Robert Koch thành lập một sinh vật tương tự về mặt hình thái, B. anthracis là tác nhân gây bệnh than (Koch và cs., 1876), tầm quan trọng của khoa học về nhóm sinh vật mới này đã trở nên rõ ràng.
Trong 50 năm tới, nhiều vi khuẩn hình thành endospore mới đã được xác định. Tuy nhiên, do công cụ còn hạn chế, việc đặt tên và phân loại các loài vi khuẩn này còn rất khó khăn. Thách thức lớn nhất của việc đưa ra thứ tự phân loại Bacillus đã được đặt ra với sự suy luận đáng ngưỡng mộ của Nathan R. Clark, và Ruth E.
Gordon trong những năm 1930 và 1940. Họ đã sử dụng giống, bao gồm “vi khuẩn hình que có khả năng hình thành các tế bào endospores khúc xạ có khả năng kháng hơn các tế bào thực vật để làm nóng, khô và các cơ quan phá hoại khác” (Gordon và cs. Smith lắp ráp một bộ sưu tập 1134 chủng Bacillus mesophilic mang 158 tên loài khác nhau. Với các đồng nghiệp của mình, ông bắt đầu tập hợp một số dữ liệu hình thái và sinh lý học tỉ mỉ, khắt khe trên từng dòng.
Sau khi phân tích dữ liệu - với sự thiên về cố ý đối với việc "gộp" chứ không phải là "tách" họ đã gép từng nhóm phân lập cho một trong 19 loài được xác định chặt chẽ (Smith và cs. Ngay sau đó, Gordon và Smith lặp lại quá trình với một bộ sưu tập 206 chủng Bacillus nhiệt phân, chỉ định chúng cho hai loài bổ sung (Gordon và cs. Năm 1973, trong chuyên khảo cổ điển của chi Bacillus (Gordon và cs., 1973b), Ruth Gordon và các đồng nghiệp đã cung cấp các mô tả chi tiết, chính xác cho 18 loài Bacillus. Phân loại Bacillus đã phát triển thành khoa học hợp lý, có trật tự và sáng suốt.
Phân Loại Theo khóa phân loại Bergey, Bacillus được phân loại như sau: SVTH: ĐỊNH THỊ THÚY KIỀU 10 GVHD: ThS. Dương Nhật Linh KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TS. Nguyễn Tấn Phát Giới: Bacteria Ngành: Firmicutes Lớp: Bacilli Bộ: Bacillales Họ: Bacillaceae Chi: Bacillus Hình 1.