phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục sơ đồ, bảng biểu, Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở thực tiễn về thanh toán quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chƣơng 4: Giải pháp đẩy mạnh thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Có rất nhiều nghiên cứu về các dịch vụ ngân hàng trong đó có hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam cũng nhƣ của các ngân hàng nƣớc ngoài. Về cơ sở lý thuyết, các tác giả trong nƣớc đa phần dựa vào các sách và giáo trình học thuật đã đƣợc xuất bản và áp dụng giảng dạy tại các trƣờng đại học, có thể kể đến: PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, 2009, Giáo trình Thanh toán quốc tế và Tài trợ ngoại thương, NXB Thống Kê ; Nguyễn Văn Tiến, 2008, Giáo trình Thanh Toán quốc tế; Hà Văn Hội, 2012, Giáo trình Thanh Toán Quốc tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội; Đinh Xuân Trình, 2006, Giáo trình thanh toán quốc tế, NXB Lao động xã hội. Các giáo trình tác giả đọc, đều là các giáo trình đƣợc dùng cho sinh viên, học viên chuyên ngành kinh tế quốc tế, kinh tế đối ngoại ở các trƣờng đại học lớn, có uy tín.
Qua đây, tác giả đã tổng hợp đƣợc các lý thuyết liên quan đến thanh toán quốc tế một cách cụ thể và rõ ràng. Ngoài ra, tác giả đã tham khảo các đề tài đã đƣợc nghiên cứu về các dịch vụ ngân hàng hiện đại và thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thƣơng mại. Các luận văn nghiên cứu đƣợc cụ thể nhƣ sau: Trần Thị Anh (2015) nghiên cứu về đề tài: “Đánh giá hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam: Trƣờng hợp ngân hàng TMCP Kỹ thƣơng Việt Nam”, thông qua các cơ sở lý thuyết tại các giáo trình học thuật, tác giả đƣa ra các tiêu chí đã lựa chọn để đánh giá về hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng Techcombank, phân tích và đƣa ra bức tranh tổng quát về hoạt động thanh toán quốc tế tại Techcombank trong mối tƣơng quan so sánh với một số ngân hàng thƣơng mại trong nƣớc cũng nhƣ nƣớc ngoài. Nguyễn Hợp Châu (2012) có bài viết :“Nâng cao năng lực thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, đã đƣa ra cái nhìn tổng quát ngắn 4 gọn về năng lực cạnh tranh về TTQT của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam so với các ngân hàng nƣớc ngoài với số liệu cụ thể từ năm 2007 đến năm 2011.
Bài viết có cái nhìn sâu sắc về năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thƣơng mại và đƣa ra một số giải pháp để nâng cao cạnh tranh trong mảng thanh toán quốc tế. Hoàng Bá Vĩnh Hƣng, (2015), viết đề tài: “Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam”, qua phƣơng pháp nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lƣợng và các phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu, tác giả đã phân tích rõ ràng các ƣu điểm và tồn tại trong phát triển thanh toán tại ngân hàng Vietinbank, từ đó đƣa ra rất nhiều nhóm giải pháp nhằm phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng này, đồng thời cũng có những kiến nghị với Ngân hàng nhà nƣớc, ngân hàng Viettinbank và với cả các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Khoảng trống của các đề tài trên: Đa số các đề tài trên mới chỉ đƣa ra cái nhìn tổng quan về hoạt động thanh toán quốc tế tại một ngân hàng thƣơng mại hoặc cả hệ thống ngân hàng thƣơng mại, song giữa một nền kinh tế hội nhập nhƣ ngày nay, cơ hội thách thức đặt ra với ngành ngân hàng nói riêng và hoạt động thanh toán quốc tế nói chung thì chƣa có luận văn nào đề cập đến, năng lực cạnh tranh, hay ảnh hƣởng của hội nhập đến chính hoạt động thanh toán quốc tế, chƣa thấy có luận văn nào đề cập đến. Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề TTQT tại các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam, hay các giải pháp để phát triển dịch vụ thanh toán này, song đề tài của tác giả là: “Hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” vẫn đáp ứng đƣợc nhu cầu cần thiết khi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng diễn ra sâu sắc, đặc biệt khi Việt Nam thực hiện mở cửa thị trƣờng dịch vụ trong đó có dịch vụ tài chính ngân hàng theo cam kết của WTO, thì việc cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng vẫn là mối quan tâm của các ngân hàng thƣơng mại Việt nam.
Cơ sở lý luận về thanh toán quốc tế của NHTM 1. Khái niệm về thanh toán quốc tế Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hƣởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nƣớc này với tổ chức cá nhân nƣớc khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nƣớc liên quan. Trong quy chế thanh toán thực tế tại các ngân hàng thƣơng mại, ngƣời ta phân hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõ ràng là: Thanh toán trong ngoại thƣơng và thanh toán phi ngoại thƣơng. Thanh toán quốc tế trong ngoại thƣơng là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu và các dịch vụ thƣơng mại cung ứng cho nƣớc ngoài theo giá cả thị trƣờng quốc tế.
Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thƣơng. Thanh toán quốc tế phi ngoại thƣơng là việc thực hiện thanh toán không liên quan dến hàng hóa xuất nhập khẩu cũng nhƣ cung ứng lao vụ cho nƣớc ngoài, nghĩa là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thƣơng mại. Đó và việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nƣớc ngoài, các chi phí đi lại ăn ở của các đoàn khách nhà nƣớc, tổ chức và cá nhân, các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của các cá nhân ngƣời nƣớc ngoài cho cá nhân ngƣời trong nƣớc, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nƣớc ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nƣớc. Trƣớc xu thế kinh tế thế giới ngày càng đƣợc quốc tế hóa, các quốc gia đang ra sức phát triển kinh tế thị trƣờng, mở cửa, hợp tác và hội nhập, trong bối cảnh đó, thanh toán quốc tế nổi lên nhƣ là một chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nƣớc với phần kinh tế thế giới bên ngoài, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đầu tƣ nƣớc ngoài , thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác.
Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức, các cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không có hoạt động thanh toán quốc tế, thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát triển đƣợc. Các phương tiện sử dụng trong thanh toán quốc tế 1. Séc Séc là một mệnh lệnh vô điều kiện do một ngƣời (chủ tài khoản) ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho ngƣời đƣợc chỉ định trên séc, hoặc trả theo lệnh của ngƣời này hoặc trả cho ngƣời cầm séc.
Về hình thức, séc là một văn bản giấy, đƣợc chia làm hai phần, có đƣờng cắt bằng răng cƣa ở giữa, để tách rời, gồm: Phần cuống séc để ngƣời phát hành lƣu những điều cần thiết Phần tách rời: để trao cho ngƣời thụ hƣởng. Séc gồm hai mặt, mặt trƣớc in sẵn tiêu đề để điền các yếu tố bắt buộc của tờ séc, mặt sau dùng để ghi các nội dung về chuyển nhƣợng. Séc thƣờng đƣợc ngân hàng in theo mẫu, có những dòng để trống để ngƣời phát hành séc in vào. Hối phiếu Theo khoản 2, điều 4 của Luật các công cụ chuyển nhƣợng Việt Nam, hối phiếu đƣợc định nghĩa nhƣ sau:” Hối phiếu (Hối phiếu đòi nợ) là giấy tờ có giá do ngƣời ký phát lập, yêu cầu ngƣời bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tƣơng lai cho ngƣời thụ hƣởng.
Các đặc điểm của hối phiếu Hối phiếu có tính trừu tƣợng, tính độc lập của khoản nợ ghi trên hối phiếu: Trên hối phiếu không cần phải ghi nội dung quan hệ kinh tế, mà chỉ cần ghi rõ số tiền phải trả là bao nhiêu, trả cho ai, ngƣời nào sẽ thanh toán, thời gian thanh toán là khi nào. không cần nói lên nguyên nhân phải trả tiền của hối phiếu. Tính bắt buộc trả tiền: Ngƣời bị ký phát phải trả tiền theo đúng nội dung của hối phiếu, không đƣợc viện bất kỳ lý do riêng hoặc chung nào để từ chối trả tiền, nghĩa là việc trả tiền không đƣợc kèm theo bất kỳ điều kiện nào, trừ khi hối phiếu đƣợc lập trái với luật điều chỉnh của nó. Tính lƣu thông của hối phiếu: Hối phiếu có thể đƣợc dùng một hay nhiều lần trong thời hạn của nó để: thanh toán tiền mua hàng hóa hay trả một khoản nợ bất kỳ, 7 chuyển nhƣợng hối phiếu cho ngƣời khác, cầm cố thế chấp để vay vốn tại NHTM, chiết khấu tại NHTM, hay tái chiết khấu ở NHTW.
Thẻ thanh toán Thẻ thanh toán là phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phƣơng thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dƣ tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng đƣợc cấp. Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM.