CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các hoạt động giao tiếp (Communicative activities - HĐGT) 1.1 Định nghĩa về HĐGT Các hoạt động giao tiếp (HĐGT), như tên gọi của chúng, đã được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa. Các hoạt động này khuyến khích và yêu cầu người học giao tiếp và lắng nghe những người học khác, cũng như những người trong chương trình và cộng đồng. Họ có mục đích thực sự là tìm kiếm thông tin, phá bỏ rào cản, nói về bản thân và tìm hiểu về văn hóa.
Stern (1992) đã định nghĩa chúng là những hoạt động liên quan đến người học trong giao tiếp đích thực. Hơn nữa, những hoạt động này đòi hỏi nhiều ngôn từ khác nhau, không có sự can thiệp của giáo viên, không có sự kiểm soát vật chất, và tập trung vào hình thức cũng như ý nghĩa. Để thực hiện các hoạt động giao tiếp, sinh viên phải có mong muốn truyền đạt điều gì đó với mục đích giao tiếp (Harmer, 2007). Nunan (1993) cũng cho rằng nhiệm vụ giao tiếp là một “công việc trong lớp liên quan đến việc người học hiểu, vận dụng, sản xuất hoặc tương tác bằng ngôn ngữ đích trong khi sự chú ý của họ tập trung vào ý nghĩa hơn là hình thức” (tr.
Bên cạnh đó, theo Rao (2002), HĐGT bao gồm các bài tập được xây dựng bằng cách tương tác giữa học sinh với học sinh với ít hoặc không có sự giám sát đầu ra của học sinh bởi giáo viên; các tình huống nói được hình thành bằng sự tương tác giữa học sinh-giáo viên với sự giám sát của giáo viên và đôi khi phản hồi kết quả đầu ra của học sinh; giáo viên dựa trên nội dung trả lời cho bài viết của học sinh. Harmer (2001) đã chứng minh rằng sinh viên nên có mong muốn giao tiếp điều gì đó, mục đích giao tiếp và họ nên tập trung vào nội dung của những gì họ đang nói hơn là vào một hình thức ngôn ngữ cụ thể. Người học nên linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ và giáo viên sẽ không can thiệp để dừng các hoạt động; và tài liệu mà giáo viên dựa vào sẽ không quyết định học sinh sử dụng hình thức ngôn ngữ cụ thể nào. Nói cách khác, HĐGT đưa ngôn ngữ của đời sống thường nhật vào lớp học bằng cách cung cấp một môi trường giao tiếp, nơi học sinh tương tác trao đổi ý kiến, quan điểm và cảm xúc với những người khác bằng cách sử dụng từ ngữ khác nhau.
Hơn nữa, HĐGT mang lại cho người học cả mong muốn và mục đích giao tiếp. Trong HĐGT, nội dung của những gì được nói được coi là điều quan trọng nhất. Đặc điểm của HĐGT Một số đặc điểm của HĐGT được Nolasco và Arthur (1988) đưa ra như sau: - HĐGT liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ cho một mục đích. Thứ nhất, HĐGT được tổ chức phải có mục đích rõ ràng vì giao tiếp thực sự luôn có ít nhất một mục đích cụ thể.
- HĐGT tạo ra mong muốn giao tiếp. Điều này có nghĩa là phải có một số loại “khoảng trống” như “khoảng trống thông tin” và “khoảng trống quan điểm” mà học sinh tìm kiếm một cầu nối. Rõ ràng hơn, HĐGT được thiết lập trong lớp học phải tạo ra một số loại động cơ thúc đẩy người học muốn giao tiếp bằng ngôn ngữ đích bởi vì người học cần tìm ra một số “khoảng trống” mà họ chưa biết, cần phải nắm được. - HĐGT khuyến khích người học sáng tạo và đóng góp ý kiến của họ.
Một số học sinh có thể rất năng động và sáng tạo trong học tập. Các em thường tham gia vào bài học, đưa ra nhiều ý kiến và giải quyết các vấn đề do giáo viên đưa ra theo cách riêng của mình. Tuy nhiên, một số người khác có vẻ rất thụ động trong lớp, đặc biệt là trong việc tìm ra giải pháp cho một vấn đề. Những học sinh này thường tham gia các hoạt động một cách thụ động và làm theo hướng dẫn của giáo viên mà không có bất kỳ ý tưởng cá nhân nào.
- HĐGT tập trung vào “những gì” (nội dung) người tham gia giao tiếp đang nói hơn là “cách” họ đang nói. Tương tự, Littlewood (1981) cũng đề cập rằng, trong HĐGT, học sinh phải kích hoạt và tích hợp kiến thức trước khi giao tiếp và kỹ năng mà giáo viên đã cung cấp và giúp họ thực hành trước đó để sử dụng chúng cho việc truyền đạt ý nghĩa. - Người học làm việc độc lập với giáo viên. Điều này có nghĩa là học sinh ngày càng có trách nhiệm hơn đối với việc học của mình.
Điều này cũng giúp họ ngày càng năng động và sáng tạo hơn trong quá trình học tập. - Người học xác định những gì họ muốn nói hoặc viết. HĐGT không kiểm soát những gì họ sẽ nói. Ở một khía cạnh khác, Morrow (1981) đã tìm ra rằng ba đặc điểm của HĐGT: khoảng trống thông tin, sự lựa chọn và phản hồi, theo ông, sẽ làm cho các hoạt động thực sự mang tính giao tiếp.
- Khoảng trống thông tin: 5 Như Morrow đã nói, “Giao tiếp diễn ra giữa hai (hoặc nhiều) người, một trong hai người biết điều gì đó mà những người khác không biết” (tr. Thật vậy, quá trình giao tiếp không hiệu quả trừ khi tồn tại khoảng trống thông tin. Trên thực tế, các hoạt động trong lớp học mang tính giao tiếp khi mỗi người học có thông tin mà người kia cần khám phá, và mục tiêu của nhiệm vụ ở đây là thu hẹp khoảng trống. - Lựa chọn: Thực tế là người học có sự lựa chọn giao tiếp đóng một vai trò quan trọng.
Người học tự quyết định những gì họ sẽ nói và cách họ thực hiện nó. Trong một cuộc trò chuyện, người ta có thể có nhiều cách khác nhau để diễn đạt cùng một ý tưởng. - Phản hồi: Trong giao tiếp thực tế, luôn có mục đích trong sự tương tác giữa mọi người. Ví dụ, mọi người tham gia vào một tình huống để hỏi và đưa ra hướng đi, mục tiêu là hỏi các cách để tìm một địa điểm.
Do đó, những gì người nghe phản hồi sẽ cho thấy mục tiêu đó đã đạt được hay chưa, nếu không có phản hồi thì sự trao đổi giữa những người giao tiếp dường như không mang tính giao tiếp. Tóm lại, khoảng trống thông tin, sự lựa chọn và phản hồi là ba yếu tố cần thiết đặc trưng cho một hoạt động giao tiếp. Vì vậy, khi tiến hành HĐGT trong lớp học, giáo viên cần bao quát tất cả các đặc điểm này 1. Các HĐGT có thể áp dụng cho việc dạy kỹ năng nói Trong việc dạy nói, giáo viên nên thực hiện các hoạt động khác nhau vì kỹ năng nói thường được coi là kỹ năng cần thiết nhất trong việc học ngoại ngữ thứ hai hoặc ngoại ngữ (Bailley và Savage trong Celce-Murcia và cộng sự, 1995).
Các hoạt động phải mang tính giao tiếp để học sinh có thể thực hành sử dụng ngôn ngữ đích ngay trong lớp học. Theo đó, Harmer (2007) cho rằng việc dạy ngoại ngữ sẽ giúp người học có được một số loại kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ, tất cả các tình huống mà giao tiếp thực tế xảy ra đương nhiên phải được tận dụng. Cụ thể, các HĐGT thông dụng sau có thể giúp các thầy cô có thêm lựa chọn trong việc thiết kế các tiết dạy kỹ năng nói. Có nhiều HĐGT có thể được sử dụng trong lớp học để khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động và có thể sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp.
➢ Câu hỏi và trả lời Câu hỏi và câu trả lời đơn giản chỉ là hoạt động hỏi và trả lời. Klippel (1999,) chia những hoạt động này thành nhiều phần như hoạt động khởi động, phỏng vấn, trò 6 chơi đoán, nhiệm vụ ghép hình và hoạt động đặt câu hỏi. Các hoạt động hỏi và trả lời đơn giản thường được sử dụng như các hoạt động khởi động. Klippel (1999) cho biết thêm rằng mục đích của việc tiến hành các hoạt động khởi động là để hiểu nhau một chút ngay từ đầu và giúp học sinh có tâm trạng thích hợp trước khi bắt đầu vào một số dự án hoặc nhiệm vụ mới.
Một số hoạt động phổ biến như hoạt động khởi động, phỏng vấn, trò chơi đoán, nhiệm vụ ghép hình, hoạt động trả lời và đặt câu hỏi. ➢ Hoạt động “khoảng trống thông tin” Richards (2006) nói rằng một khía cạnh quan trọng của giao tiếp trong CLT là khoảng trống thông tin đề cập đến một giao tiếp thực sự trong đó mọi người thường giao tiếp để có được thông tin mà họ không biết. Thronbury (2005) cũng nói rằng trong những loại nhiệm vụ này, người học có khoảng trống về kiến thức và nó có thể được bắc cầu bằng cách sử dụng ngôn ngữ. Vì vậy, để có được thông tin, người giao tiếp phải giao tiếp.
Littlewood (2002) đặt tên cho các hoạt động này là các hoạt động giao tiếp chức năng nhấn mạnh việc chia sẻ thông tin giữa những người học và quá trình xử lý thông tin. Ví dụ về các hoạt động khoảng trống thông tin là trao đổi thông tin cá nhân, phát hiện thông tin còn thiếu, xác định sự khác biệt trên tranh ảnh, đóng vai. ➢ Trò chơi Trò chơi có thể phù hợp để giúp học sinh nắm vững ngôn ngữ cũng như thoải mái trong việc học ngôn ngữ. Có nhiều trò chơi có thể được sử dụng trong lớp luyện nói như trò chơi đánh vần, trò chơi tìm kiếm, trò chơi ghép nối.
➢ Hội thoại Dornyei và Thurrell (1992) cho rằng hội thoại là một hoạt động cung cấp nội dung cho một loạt các chức năng giao tiếp và các lĩnh vực ý nghĩa trong đó người học thực hành quản lý các phiên giao tiếp xã hội dài hơn như giới thiệu các chủ đề mới và thay phiên nhau. Hoạt động này có thể tạo thêm cơ hội cho học sinh thể hiện cá tính và kinh nghiệm của mình bằng ngôn ngữ đích. ➢ Kể chuyện Mục tiêu của các hoạt động này là giúp học sinh tạo ra văn bản liên kết dài để học sinh có thể phát triển trí tưởng tượng và một số kỹ năng ngoại ngữ (Klippel, 1999). Các hoạt động có thể ở dạng câu chuyện dây chuyền, câu chuyện hình ảnh, tiếp tục nói về một chủ đề và những câu chuyện khác.
Bản chất của việc dạy kỹ năng nói 1. Định nghĩa về kỹ năng nói Có rất nhiều định nghĩa liên quan đến kỹ năng nói được đề xuất bởi các chuyên gia trong việc dạy và học ngôn ngữ. Cameron (2001) đề cập rằng nói là việc chủ động sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt ý nghĩa để người khác có thể hiểu được chúng.