phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng. Tổng quan tài liệu đƣợc trình bày trong 27 trang - Chƣơng 2. Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc trình bày trong 12 trang bao gồm: Giới thiệu đối tƣợng, thời gian, địa điểm, nội dung, phƣơng pháp và các chỉ tiêu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và bàn luận đƣợc tình bày trong 26 trang bao gồm: Bàn luận kết quả về các chỉ tiêu nghiên cứu.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Tình hình nghiên cứu sản xuất chế phẩm vi sinh 1. Tình hình nghiên cứu sản xuất chế phẩm vi sinh ở trên thế giới Các công trình nghiên cứu của FAO và WHO chỉ ra rằng chƣa có một loại phân bón hoá học nào dùng đúng liều lƣợng trong nông nghiệp mà không gây độc hại cho con ngƣời, ô nhiễm môi trƣờng. đồng thời dẫn tới nhiều vấn đề về an toàn thực phẩm nhƣ dƣ lƣợng kim loại nặng và nitrat trong sản phẩm nông nghiệp, nhiều loại cây bị đột biến gen, làm thay đổi cơ chế di truyền, làm giảm thay đổi cơ chế di truyền, làm giảm chất lƣợng nông sản. Còn đối với con ngƣời gây đột biến nhiễm sắc thể, ung thƣ và nhiều bệnh khác.
Theo số liệu thống kê của FAO, năm 2014, sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên thế giới đã xuất hiện ở 170 nƣớc, với tổng diện tích canh tác là 43,7 triệu/ha [32]. Phân bón vi sinh do Noble và Hiltner sản xuất đầu tiên tại Đức năm 1895 đƣợc đặt tên là Nitragin. Sau đó phát triển sản xuất tại một số nƣớc khác nhƣ ở Mỹ (1896), Canada (1905), Nga (1907), Anh (1910) và Thụy Điển (1914).… Nitragin là loại phân đƣợc chế tạo bởi vi khuẩn Rhizolium do Martinus phân lập năm 1888 và đƣợc Frank. B đặt tên vào năm 1889 dùng để bón cho các loại cây thích hợp họ đậu.
Từ đó cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm ứng dụng và mở rộng việc sản xuất các loại phân bón vi sinh cố định nitơ mà thành phần còn đƣợc phối hợp thêm một số VSV có ích khác nhƣ một số xạ khuẩn cố định nitơ sống tự do Frankia spp, Azotobacter spp, các vi khuẩn cố định nitơ sống tự do Clostridium, Pasterianum, Beijerinkia indica, các xạ khuẩn có khả năng giải cellulose, hoặc một số chủng VSV có khả năng chuyển hóa các nguồn dự trữ phospho và kali ở dạng khó hoà tan với số lƣợng lớn có trong đất mùn, than bùn, trong các quặng apatit, phosphoric…thành dạng dễ hoà tan, cây trồng có thể hấp thụ đƣợc. Tình hình nghiên cứu sản xuất chế phẩm vi sinh ở trong nước Hiện nay ở trong nƣớc đã có nhiều công trình nghiên cứu sản xuất chế phẩm vi sinh nhƣ: Đào Châu Thu, Nguyễn Ích Tân và cs (2003) thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp bền vững thuộc trƣờng Học viện nông nghiệp Việt Nam tiến hành đề tài “Sản xuất phân hữu cơ từ rác thải hữu cơ sinh hoạt và phế thải nông nghiệp để dùng làm phân bón cho rau sạch vùng ngoại ô bị ô nhiễm thành phố”. Kết quả tạo ra đƣợc PHCVS từ rác thải và phế thải nông nghiệp [22]. Đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất phân bón VSV đa chủng mới, phân bón chức năng phục vụ chăm sóc cây trồng cho một số vùng sinh thái” mã số KC04.04 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam chủ trì (2001-2004) [24].
Công trình đã đƣợc Bộ NN & PTNT công nhận là tiến bộ kỹ thuật và cho phép áp dụng trong sản xuất. Hiện nay chế phẩm đang đƣợc sử dụng trong xử lý nguyên liệu giàu hợp chất cacbon có bổ sung phân gia súc gia cầm làm cơ chất trồng cây, sản phẩm tạo ra bảo đảm độ an toàn sinh học. Viện Môi trƣờng Nông nghiệp - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã thực hiện Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi sinh để chế biến phế thải chăn nuôi làm phân bón hữu cơ sinh học tại các nông hộ ở Quỳ Hợp tỉnh Nghệ An vào năm 2009[17]. Bộ môn Nông hóa, Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (2014) cũng đã tiến hành nghiên cứu chế phẩm VSV để sản xuất phân hữu cơ sinh học từ bã nấm và phân gà [15].
Ngoài ra, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Sơn La đã nghiên cứu ứng dụng sản xuất CPSH xử lý phế thải trong sản xuất nông nghiệp (từ rơm, rạ, vỏ cà phê) làm phân bón hữu cơ tại tỉnh Sơn La vào năm 2016. Khoa Nông học Trƣờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên cũng đã nghiên cứu thực trạng sản xuất nấm và nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi sinh xử lý bã thải 7 sau trồng nấm thành phân bón hữu cơ tại thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tại vào năm 2016 [26]. Tình hình nghiên cứu sản xuất chế phẩm vi sinh ở trong tỉnh Dự án: Phát triển phân bón hữu cơ truyền thống từ chất thải chăn nuôi lợn theo chuỗi giá trị tại tỉnh Bình Định hay gọi tắt là dự án LCASP(2018), do Sở NN&PTNN tỉnh Bình Định chủ trì. Dự án đã hỗ trợ một số trang trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh các máy ép phân và đã hƣớng dẫn bà con xử lý phân thải sau máy ép để ủ tạo thành phân bón hữu cơ, tuy nhiên, thực tế hiện nay hầu hết các hộ dân đều không xử lý hoặc xử lý xong đóng bao để sẵn nhƣng không xử lý triệt để.
Vì nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ phân thải sau máy ép không ai mua, chế phẩm xử lý chất thải chăn nuôi tạo thành phân bón hữu cơ vi sinh hiện nay trên thị trƣờng chất lƣợng không đồng đều, không đảm bảo nên ngƣời dân vẫn chƣa mặn mà tham gia vào quá trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh để cung cấp ra thị trƣờng. Năm 2010, đề tài cấp tỉnh “Nghiên cứu sản xuất và ứng dụng chế phẩm vi sinh Trichoderma sp. phòng ngừa bệnh thối cổ rễ trên cây đậu phụng, cây họ cà, và nấm ký sinh Metarhizium sp. để quản lý rầy nâu hại lúa ở Bình Định” doTrung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Bình Định (nay là Trung tâm Thông tin - Ứng dụng KH&CN) chủ trì.
Đề tài đã sản xuất thành công chế phẩm VSV đối kháng ngừa bệnh thối cổ rễ trên cây trồng cạn. Từ năm 2018 đến năm 2019, thông qua Chƣơng trình chuyển giao, ứng dụng Công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh, Trung tâm Thông tin - Ứng dụng khoa học và công nghệ tỉnh Bình Định đã tiến hành phân lập, tuyển chọn đƣợc bộ chủng VSV có hoạt tính sinh học cao, đã sản xuất thành công CPSH BIDI-MICOM ứng dụng xử lý chất thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi thành phân bón hữu cơ vi sinh, tuy nhiên, hiệu suất lên men chƣa cao, chế phẩm có thời gian bảo quản thấp (chỉ khoảng 6 tháng) do đó, cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện quy trình sản xuất nhằm chế tạo thành công CPSH có chất 8 lƣợng cao, ứng dụng xử lý chất thải nông nghiệp thành PHCVS có chất lƣợng đạt chuẩn Quốc gia phục vụ cho nông nghiệp sạch trên địa bàn tỉnh cũng nhƣ các tỉnh lân cận. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lạc trong và ngoài nƣớc 1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lạc trên thế giới Hiện nay, theo kết quả thống kê của FAO [54], cây lạc đƣợc trồng ở 116 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Theo Yugandhar (2005) [48], cây lạc đƣợc trồng từ 400 vĩ Bắc đến 400 vĩ Nam. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lạc trên thế giới Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (1000 ha) (tấn/ha) (1000 tấn) 2015 26.588,9 Nguồn: http://www.org/faostat/en/#data/QC/, ngày 21/01/2021 [53]. Số liệu thống kê tại bảng 1.1 cho thấy, trong khoảng 5 năm gần đây (2015 - 2019) diện tích lạc trên thế giới có xu hƣớng tăng dần, diện tích lạc trung bình năm 2018 và 2019 (29,65 triệu ha) đã tăng 1,26 triệu ha so với năm 2016 và tăng 3,14 triệu ha so với năm 2015; năng suất lạc trung bình toàn thế giới ổn định và đạt trung bình 1,66 tấn/ha (biến động từ 1,61 - 1,71 tấn/ha); do diện tích tăng, năng suất ổn định nên sản lƣợng lạc trung bình năm 2018 và 2019 (49,8 triệu tấn) đã tăng 4,1 triệu tấn so với năm 2016 và tăng 5,3 triệu tấn so với năm 2015. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lạc của các Châu lục năm 2019 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Châu lục (1000 ha) (tấn/ha) (1000 tấn) Châu Á 11.250,2 Châu Âu 2,0 2,66 5,3 (2018) Châu Phi 17.850,3 Châu Đại 10,0 1,96 19,5 Dƣơng Nguồn: http://www.org/faostat/en/#data/QC/, ngày 21/01/2021 [54].
Theo kết quả thống kê tại bảng 1.2, diện tích trồng lạc giữa các châu lục có sự không đồng đều rất lớn, mặc dù cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ nhƣng châu Phi lại là châu lục có diện tích lớn nhất thế giới, tiếp sau đó là châu Á và thấp nhất là châu Âu. Tuy nhiên, với năng suất trung bình toàn châu lục đạt 3,66 tấn/ha, châu Mỹ hiện là châu lục có năng suất lạc cao nhất thế giới, tiếp theo là châu Âu, châu Á và thấp nhất là châu Phi. Do đó, sản lƣợng lạc lớn nhất hiện nay đƣợc sản xuất ở châu Á (27,25 triệu tấn/năm, chiếm 55,9% tổng sản lƣợng lạc trên thế giới) và thấp nhất là châu Âu chỉ 5,3 nghìn tấn/năm. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lạc ở Việt Nam Tại Việt Nam, theo yêu cầu về điều kiện sinh thái, cây lạc có thể trồng đƣợc ở tất cả các tỉnh trong cả nƣớc.
Tuy nhiên, theo số liệu thống kê năm 2015 [30], cây lạc chỉ đƣợc trồng tập trung (từ 3.000 ha/năm trở lên) ở 24 tỉnh thành trong cả nƣớc, với diện tích một tỉnh biến động từ 3.200 ha, tỉnh có diện tích lớn nhất là tỉnh Nghệ An (16.200 ha) và tỉnh có diện tích nhỏ nhất là tỉnh Vĩnh Phúc (3. Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2019, diện tích trồng lạc ở nƣớc ta hiện nay là 177,0 ngàn ha (chiếm 34,3% 10 tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm, 1,6% tổng diện tích cây trồng hàng năm), trong 5 năm gần đây (2015 - 2019) diện tích trồng lạc ở nƣớc ta có xu hƣớng giảm dần (giảm 11,6 %), từ 200,2 ngàn ha năm 2015 giảm xuống còn 177,0 ngàn ha vào năm 2019. Đồng thời, do cải tiến giống, chất lƣợng giống và biện pháp canh tác nên năng suất lạc trung bình cả nƣớc trong 5 năm gần đây đã tăng 9,25% (từ 2,27 lên 2,48 tấn/ha). Do đó, sản lƣợng lạc hàng năm của nƣớc ta vẫn đảm bảo ở mức trên 400 ngàn tấn.