ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, bệnh lí mũi xoang ngày càng phổ biến với nhiều bệnh lí khác nhau: viêm, polyp, nấm xoang, u nhú, … Điều trị bệnh lí mũi xoang kết hợp cả phƣơng pháp điều trị nội khoa kết hợp phẫu thuật đã cho thấy hiệu quả cải thiện so với điều trị nội khoa đơn thuần trƣớc đây, đặc biệt là các bệnh lí cần phải lấy bệnh tích để giải quyết các vấn đề tồn tại. Trong đó xoang hàm là vị trí rất hay gặp trong những bệnh lí đó. Cấu tạo của xoang hàm đã cho thấy các vị trí ẩn cũng nhƣ những ngóc ngách gây ra những vấn đề khó khăn trong quá trình nội soi cũng nhƣ sự tiếp cận của các dụng cụ. Những vấn đề này gây ra những thách thức đối với cả những bác sĩ phẫu thuật giàu kinh nghiệm.
Một nghiên cứu của Robey và các cộng sự [36] đã kết luận rằng thành trƣớc và nền (huyệt răng) của xoang hàm rất khó tiếp cận bất kể với dụng cụ tốt. Mặc dù phẫu thuật mở khe giữa (MMA) lớn cùng với ống nội soi 70 độ có thể giúp quan sát và thao tác phẫu thuật chỉ khoảng 28% thành trƣớc của xoang hàm do đó việc lấy sạch các tổn thƣơng là rất khó khăn. Phẫu thuật nội soi sàn sọ qua đƣờng mũi cũng rất khó tiếp cận các khu vực hố chân bƣớm ngoài cũng nhƣ hố dƣới thái dƣơng [11], [25], [16]. Các khu vực khó tiếp cận của xoang hàm đã đƣợc tiếp cận thông qua đƣờng Caldwell-Luc, đƣờng giữa mặt, đƣờng mũi bên hoặc phẫu thuật cắt vách mũi xoang tiêu chuẩn và cải tiến [30], [31], [40].
Tuy nhiên những phƣơng pháp này có tỉ lệ biến chứng cao hơn so với phƣơng pháp nội soi mở khe giữa qua đƣờng mũi với tỉ lệ biến chứng thoáng qua là 75% và biến chứng kéo dài là 28% (đau, dị cảm, tê mặt, ảnh hƣởng răng,…) [24].2 Từ những thách thức đó, phƣơng pháp tiếp cận xoang hàm qua đƣờng trƣớc ống lệ tị (PLRA) đƣợc đề xuất từ khoảng năm 2010 bởi Nakamaru [30] và đƣợc Zhou [47],[48],[49] giới thiệu vào khoảng năm 2013,sau đó phƣơng pháp này đƣợc áp dụng phổ biến hơn với việc bảo tồn đƣợc ống lệ tị và cuốn mũi dƣới [38], [15], [14]. PLRA cho phép quan sát rõ và tiếp cận các khu vực khó của xoang hàm bằng ống nội soi 0 độ và thao tác dễ dàng để lấy các bệnh phẩm bằng các dụng cụ thẳng với tỉ lệ biến chứng rất thấp [12]. Ngoài ra phƣơng pháp này cũng giúp tiếp cận dễ dàng khu vực hố chân bƣớm ngoài và khu vực hố dƣới thái dƣơng, hỗ trợ phẫu thuật cho các chuyên khoa khác. Chính vì thế, việc nghiên cứu đặc điểm hình ảnh học ống lệ tị là bƣớc cần thiết để hỗ trợ trong việc đánh giá, áp dụng trong phƣơng pháp phẫu thuật nội soi mũi xoang bằng đƣờng trƣớc ống lệ tị.
Hiện nay, các nghiên cứu phân tích đặc điểm của ống lệ tị trên CT Scan chỉ đƣợc thực hiện rất ít trong vài năm gần đây bao gồm các tác giả Simmen (2017) thực hiện tại Thụy Sĩ [39], Paul Lock (2019) thực hiện tại Trung Quốc [27], Sieskiewicz (2016) thực hiện tại Ba Lan [38] và tại Việt Nam chúng tôi chƣa tìm đƣợc tài liệu tƣơng tự. Từ những lí do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về đề tài “Khảo sát hình ảnh học ống lệ tị trên CT Scan đề xuất ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang từ 2019 đến 2020 tại BV ĐHYD.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu về đặc điểm tƣơng quan của ống lệ tị với thành trƣớc xoang hàm trên CT Scan mũi xoang hoặc hàm mặt tại Bệnh Viện Đại Học Y Dƣợc TPHCM từ tháng 10/2019 đến 6/2020, đề xuất khả năng áp dụng phƣơng pháp tiếp cận xoang hàm bằng đƣờng trƣớc ống lệ tị. Mục tiêu chuyên biệt: 1. Xác định khoảng cách từ thành trƣớc xoang hàm đến thành trƣớc và thành sau ống lệ tị, độ rộng ống lệ tị.
Đề xuất ứng dụng kết quả nghiên cứu vào đánh giá khả năng tiếp cận xoang hàm bằng đƣờng trƣớc ống lệ tị của dân số nghiên cứu.4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 GIẢI PHẪU XOANG HÀM Xoang hàm thuộc hệ thống xoang trƣớc trong hệ thống các xoang cạnh mũi bao gồm xoang hàm, xoang trán và nhóm tế bào sàng trƣớc[1], [2], [3]. Về cấu trúc xoang hàm là một hốc lớn hình tháp ba mặt, có đỉnh hƣớng ra ngoài đƣợc tạo bởi mỏm gò má, đáy ở trong đƣợc tạo bởi thành ngoài hốc mũi (vách mũi xoang). Mỗi xoang có bốn bờ: trên, dƣới, trƣớc, sau và năm ngách: ngách dƣới ổ mắt, ngách gò má, ngách huyệt răng, ngách khẩu cái trên và ngách khẩu cái dƣới. Sự tăng trƣởng của xoang hàm qua hai giai đoạn:0-3 tuổi và 7-13 tuổi.
Ba năm đầu tiên sau sinh là giai đoạn mở rộng của xoang hàm, khi trẻ 4 tuổi bắt đầu thấy hình ảnh của xoang trên phim X quang, đến 6 tuổi thì xoang hàm phát triển đầy đủ nhƣ xoang ngƣời lớn, từ 7-12 tuổi là giai đoạn xoang phát triển nhanh (cùng với sự mọc răng vĩnh viễn) [6]. Đến 18 tuổi, xoang hàm đạt kích thƣớc trƣởng thành. Theo Teke [42], việc xác định độ dài, độ rộng, chiều cao của xoang hàm có thể xác định chính xác giới tính ở nữ là 69,4% và 69,2 % ở nam. Xoang hàm có đƣờng kính ngang là 25,9mm, đƣờng kính trên dƣới là 31,2mm và đƣờng kính trƣớc sau là 34,7mm (theo Đặng Mỹ Nhi) [4].
Theo Tanna[41], thể tích trung bình của xoang hàm là 20,1 cm³. Thể tích xoang hàm ngang mức chỗ bám của cuốn mũi dƣới từ đầu dƣới đến đầu trên là 12,9 cm3 và thể tích xoang hàm ngang mức từ thành trƣớc xoang hàm đến ống lệ .5 tị là 1,1 cm3. Trong khi theo nghiên cứu của Jun [22], thể tích trung bình của xoang hàm ở nam là 24,043 cm³, còn ở nữ là 15,895 cm³. Niêm mạc xoang hàm sẽ dày lên trong trƣờng hợp viêm cấp và do đó thể tích xoang hàm cũng sẽ giảm [13].1: Sự phát triển của xoang hàm (Nguồn: M.
Pais Clemente, ―Sinus Surgery: Endoscopic and Microscopic Approaches‖) [28] 1.1 Thành trƣớc: Thành trƣớc xoang hàm có dạng hình tứ giác, lõm nhẹ ở phía trƣớc, hƣớng ra trƣớc, ra ngoài và hơi xuống dƣới. Thành này có hai cấu trúc quan trọng là hố nanh (là nơi mở vào xoang hàm trong phẫu thuật xoang kinh điển) và lỗ dƣới ổ mắt.2 Thành sau: Ngăn cách giữa xoang hàm và hố chân bƣớm khẩu cái.6 Động mạch hàm, hạch bƣớm khẩu cái, các nhánh của thần kinh tam thoa (V) và hệ thần kinh tự chủ nằm ở hố chân bƣớm khẩu cái.2:Thành trong xoang hàm (Nguồn: M. Pais Clemente, ―Sinus Surgery: Endoscopic and Microscopic Approaches‖) [28] 1.3 Thành trên hay trần xoang hàm: Là một xƣơng mỏng và có chức năng nhƣ sàn ổ mắt, thành này có ống dƣới ổ mắt, bên trong có chứa dây thần kinh dƣới ổ mắt. Thành trên của xoang hàm có dạng hình tam giác với đỉnh phía sau tƣơng ứng với mỏm ổ mắt của xƣơng khẩu cái.
Sàn ổ mắt nằm nghiêng xuống dƣới, ra ngoài và ra trƣớc.8 Trần xoang hàm gồm phần lớn sàn ổ mắt, đƣợc giới hạn bởi phía trƣớc là phần dƣới ổ mắt, phía ngoài là đƣờng khớp hàm- gò má ở 1/3 trƣớc và khe dƣới ổ mắt ở 2/3 sau, phía trong tiếp giáp với phần dƣới của mảnh ổ mắt ở phía sau. Thành này có hai cấu trúc quan trọng là ống dƣới ổ mắt và rãnh dƣới ổ mắt, bên trong có chứa bó mạch và thần kinh dƣới ổ mắt.4 Thành trong: Hình 1.3: Cấu tạo xoang hàm (Nguồn: M. Pais Clemente, ―Sinus Surgery: Endoscopic and Microscopic Approaches‖) [28] Bao gồm nửa dƣới thành ngoài hốc mũi, phần trên thành trong xoang hàm và nền xoang hàm.1 Nửa dƣới thành ngoài hốc mũi: Diện này thƣờng có dạng tứ giác. Có thể có dạng tam giác với đỉnh phía dƣới.
Tƣơng ứng với diện này về phái hốc mũi có những cấu trúc quan trọng nhƣ .9 gờ ống lệ mũi, khe bán nguyệt dƣới, phễu sàng, mỏm móc, thóp thành ngoài hốc mũi, bóng sàng.2 Phần trên thành trong xoang hàm Hiện diện hai cấu trúc quan trọng gồm lỗ thông xoang hàm và vùng tiếp nối hàm sàng. Lỗ thông xoang hàm: là lỗ đổ tự nhiên của xoang hàm vào hốc mũi qua khe mũi giữa và là điểm mốc quan trọng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang. Theo Đặng Mỹ Nhi [4], lỗ thông xoang hàm thƣờng có hình bầu dục và có đƣờng kính ngang là 6,2mm và đƣờng kính dọc là 4,6mm. Vị trí của lỗ thông xoang hàm: nằm ở 1/3 trên thành trong xoang hàm hay phía trên vách mũi xoang.
Ở ngoài mỏm móc và thƣờng ở đáy 1/3 sau của phễu sàng hoặc khoảng giữa 1/3 sau và 1/3 giữa. Bên cạnh lỗ thông tự nhiên xoang hàm, thành ngoài hốc mũi còn có những lỗ khác thông hốc mũi với xoang hàm còn gọi là lỗ thông xoang hàm phụ, chúng là những lỗ nằm trên niêm mạc ở vùng không có xƣơng và nằm cùng mặt phẳng với thành ngoài hốc mũi. Lỗ thông xoang hàm phụ có thể nằm phía trƣớc hoặc ở phía sau lỗ chính, nhƣng thƣờng ở dƣới và hoặc ở sau lỗ thông tự nhiên của xoang hàm. Lỗ thông xoang hàm phụ không có chức năng và sẽ dẫn lƣu xoang chỉ khi lỗ thông tự nhiên bị tắc hoặc khi có áp lực trong xoang.
Vùng tiếp nối hàm sàng: thƣờng có dạng tam giác, nằm ở 1/3 trƣớc góc trên thành trong xoang hàm, ở phía trƣớc lỗ thông xoang hàm. Vùng này rất hẹp, có tiết diện khoảng 1-3 mm².3 Nền xoang hàm: .10 Nền xoang hàm giáp ranh với hố mũi, tạo nên thành bên hố mũi: 3/4 trƣớc liên quan đến ngách mũi dƣới, là vùng mở thông xoang hàm sang mũi, trong các phẫu thuật kinh điển (Caldwell Luc, Claué). Tƣơng ứng với cung huyệt răng và nằm thấp hơn nền hốc mũi. Các lồi huyệt răng thƣờng thấy ở các răng hàm 1 và 2, răng tiền hàm 2.
Thể tích của xoang hàm ở ngƣời lớn theo nghiên cứu trên xác ngƣời Việt trƣởng thành của bộ môn Tai Mũi Họng ĐH Y Dƣợc TP. Hồ Chí Minh do Võ Thị Ngọc Hân thực hiện là 12 cm³.4: Phức hợp lỗ thông xoang. Pais Clemente, ―Sinus Surgery: Endoscopic and Microscopic Approaches‖)[28] 1.2 GIẢI PHẪU HỆ THỐNG LỆ TỊ Hình 1.5: Cấu tạo hệ thống lệ tị Hệ thống lệ tị bao gồm: điểm lệ, lệ quản, túi lệ và ống lệ tị. Ricca, Nasolacrimal Stents: An Introductory Guide‖) [8] 1.1 Điểm lệ: Điểm lệ là các lỗ có đƣờng kính 0,3 mm nằm ở viền ngoài mí trên và dƣới.
Mỗi điểm lệ nằm trên 1 gò cao đƣợc gọi là nhú lệ.