ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Tính cần thiết của đề tài Mô hình biogas trở nên rất quen thuộc với người dân. Mô hình thường được sử dụng để xử lý chất thải từ các trang trại chăn nuôi để tạo ra nguồn khí sinh học sử dụng trong hộ gia đình hay trong sản xuất. Mô hình biogas đã mang lại rất nhiều lợi ích như xử lý được một khối lượng lớn chất thải hữu cơ, khí sinh ra được sử dụng làm năng lượng để đun nấu và thắp sáng, chạy máy phát điện. Bên cạnh những thuận lợi đó còn có những mặt tiêu cực là nước thải sau bể biogas thường không đạt tiêu chuẩn xả thải do còn chứa nhiều chất hữu cơ, chất dinh dưỡng cao, oxy hoà tan trong nước thấp… Hàm lượng chất hữu cơ cao tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn, ký sinh trùng gây bệnh phát triển mạnh, bên cạnh đó, hàm lượng dinh dưỡng cao nếu xả vào nguồn nước sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa, gây ô nhiễm nguồn nước.
Vì vậy cần có biện pháp xử lý nước thải này. Nước thải chứa hàm lượng dinh dưỡng cao (nitơ và photpho) thường được xử lý bằng công nghệ AAO, công nghệ này được xem là công nghệ xử lý chất dinh dưỡng truyền thống, có hiệu quả trong việc xử lý nitơ và photpho. Để xử lý nước thải nói chung và nước thải sau bể biogas nói riêng, chúng ta có thể lựa chọn nhiều phương pháp xử lý. Đối với nước thải có lượng chất độc không quá cao thì hệ thống xử bằng phương pháp sinh học thường được xem xét đầu tiên.
Phương pháp sinh học có thể hoạt động tốt cả ở nồng độ chất hữu cơ cao hay nồng độ chất hữu cơ thấp, chi phí xử lý thường thấp hơn các phương pháp khác. Ngày nay hệ thống xử lý nước thải thường được bổ sung thêm giá thể để tăng mật độ sinh khối trong bể phản ứng từ đó giảm thời gian lưu nước trong hệ thống, tăng tốc độ và hiệu quả xử lý, giảm chi phí xử lý. Trên cơ sở đó, đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi sau bể biogas bằng mô hình AAO sử dụng giá thể Biofix và Biofringe” được thực hiện. Trang 1 HVTH: LÂM THẾ KIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ 1.Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 1.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu khả năng xử lý nước thải chăn nuôi sau bể biogas bằng mô hình AAO sử dụng giá thể Biofix (Stick – bed) và Biofringe (Swim – bed).Nội dung nghiên cứu của đề tài.
Đề tài tập trung vào các nội dung chính sau đây: đánh giá khả năng xử lý COD, nitơ, photpho của mô hình. Hiệu quả loại bỏ sẽ được đánh giá ở các tải trọng COD khác nhau: 1,0; 1,5; 2,0; 2,5 kgCOD/m3.Ý nghĩa và tính mới của đề tài Hiện nay, trên thế giới xử lý nước thải bằng phương pháp kỵ khí kết hợp thiếu khí và hiếu khí đã ứng dụng nhiều trong các hệ thống xử lý nước thải công nghiệp cả trong thực tế lẫn mô hình thí nghiệm trong đó có nước thải chăn nuôi sau bể biogas. Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi sau bể biogas bằng mô hình AAO sử dụng giá thể Biofix và Biofringe với 2 loại vật liệu bám dính mới là BioFix (mô hình Stick – Bed) và BioFringe (mô hình Swim – Bed) vẫn chưa có nghiên cứu ứng dụng. Do đó, đây là một đề tài mới và có tính thực tiễn cao.Phạm vi – giới hạn của đề tài Nghiên cứu được tiến hành ở ngay tại phòng thí nghiệm của khoa Môi trường – Đại học Bách khoa TP.
Mẫu thử nghiệm: là mẫu nước thải chăn nuôi heo sau bể biogas.Tính khoa học và thực tiễn của đề tài - Tính khoa học: Toàn bộ kết quả của đề tài đựợc rút ra từ những thí nghiệm có căn cứ khoa học rõ ràng. Các thí nghiệm được thực hiện theo tiêu chuẩn của Việt Nam và phương pháp tiêu chuẩn được sử dụng khá phổ biến trên thế giới: ”Standard methods for the examination of water and wastewater, 21st Edition, 2005”. Trang 2 HVTH: LÂM THẾ KIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ - Tính thực tiễn:Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là cơ sở lựa chọn công nghệ cho xử lý nước thải chăn nuôi sau bể biogas. Trang 3 HVTH: LÂM THẾ KIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.Nước thải chăn nuôi heo và công nghệ xử lý Nước thải chăn nuôi heo là một trong những loại nước thải có nồng độ ô nhiễm khá cao, đặt biệt là COD, nitơ, photpho và vi sinh vật gây bệnh.
Thành phần, khối lượng của nước thải chăn nuôi heo phụ thuộc nhiều vào giai đoạn sinh trưởng của heo, chế độ cho ăn và phương thức vệ sinh chuồng trại. Nước phân chuồng chăn nuôi heo chủ yếu phát sinh từ nước tiểu, phân, thức ăn dư thừa. Nước phân chuồng chứa khá nhiều đạm và kali. Đạm trong nước phân chuồng tồn tại chủ yếu ở 3 dạng: urê, axit uric và axit hippuric.
Thành phần nước thải chăn nuôi heo giao động khá lớn, tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc và vệ sinh của mỗi cơ sở chăn nuôi, nhưng thông thường thì nước thải chăn nuôi heo chứa một lượng lớn các thành phần sau: SS:180 – 1248 mg/l; COD: 500 – 3000; BOD: 300 – 2100 mg/l; NH4+: 15- 865mg/l; Escherichia Coli: 15.107 MPN/ 100ml; Steptococcus faecalis 3.103 MPN/ 100ml; Clostridium perfringens: 50 – 160 tế bào/ 100ml. Tính chất của nước thải chăn nuôi được trình bày ở bảng 2. Tính chất của nước thải chăn nuôi ĐẶC TÍNH ĐƠN VỊ GIÁ TRỊ Độ màu Pt-Co 350 – 870 Độ đục mg / l 420 – 550 BOD5 mg / l 3500 – 8900 COD mg / l 5000 – 12000 SS mg / l 680 – 1200 TP mg / l 36 -72 TN mg / l 220 – 460 Dầu mỡ mg / l 5 – 58 Nguồn: Bá Lan Hanh (2005) Chính vì mức độ ô nhiễm cao của nước thải chăn nuôi heo mà nước thải này cần phải được xử lý giảm nồng độ ô nhiễm, đặc biệt là vi sinh vật gây bệnh. Công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi heo ngày nay chủ yếu là dựa vào quá trình kị khí Trang 4 HVTH: LÂM THẾ KIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ như bể Biogas, bể UASB….
Đây là công nghệ khá phù hợp cho xử lý nước thải có nồng độ COD cao. Bể Biogas là bể phản ứng được dùng khá phổ biến trong xử lý nước thải chăn nuôi, đặc biệt là ở hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.Mô hình sử dụng bể Biogas xử lý nước thải chăn nuôi Bản chất của quá trình sản xuất Biogas là dựa vào nguyên tắc phân hủy kị khí, các chất hữu cơ phức tạp bị phân hủy tạo thành các chất đơn giản ở dạng khí hoặc hòa tan. Quá trình trải qua nhiều giai đoạn với hàng nghìn phản ứng hóa học, có sự tham gia nhiều loại vi sinh vật kị khí. Lượng khí metan có thể thu từ phân gia súc phụ thuộc vào khẩu phần thức ăn, phương thức thu gom, lưu trữ, xử lý và thời gian phân hủy.
Thường chỉ có 40 – 60% chất rắn dễ bay hơi được chuyển hóa trong thời gian phân hủy 12 – 18 ngày.Sơ đồ hầm Biogas Trang 5 HVTH: LÂM THẾ KIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ Chất thải sau khi lên men kị khí sẽ trở nên ổn định. Hơn 50% lượng nitơ hữu cơ được chuyển sang dạng amoniac hòa tan, sau đó chuyển sang dạng nitrit, nitrat, những dạng vô cơ hòa tan này được thực vật hấp thụ rất mạnh. Như vậy, quá trình lên men đã làm tăng giá trị nitơ hữu cơ khoảng 30 – 60%. Hàm lượng kali, phopho có trong chất thải sau quá trình lên men không giảm, 50% photpho và 80% kali không đổi trong suốt quá trình lên men.
Công nghệ Biogas có thể xử lý được nước thải có nồng độ COD cao đồng thời sinh ra khí sinh học có thể được sử dụng cho nấu ăn hay máy phát điện, khi đốt 1m3 hỗn hợp khí gas từ bể biogas sẽ sinh ra một lượng nhiệt tương đương với 1 lít cồn với 4,5 – 6 kcal được sinh ra, với mức năng lượng này cũng tương đương với 0,8 lit xăng, 0,6 lit dầu thô, 1,4kg than hoa hay 2,2 kW điện. Bùn thải sau Biogas có thể được sử dụng làm phân bón vì chứa một lượng lớn các chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, nước thải sau bể Biogas vẫn còn nồng độ ô nhiễm cao cả về COD và chất dinh dưỡng.2 cho ta thấy thành phần chính của khí từ bể biogas. Nước thải chăn nuôi chứa một lượng lớn nitơ và photpho, các chất dinh dưỡng này chỉ bị giữ lại một phần rất nhỏ trong bể qua quá trình hấp thụ vào trong tế bào, còn lại hầu hết các chất dinh dưỡng này được thải cùng với nước thải sau bể biogas.
Thành phần khí trong hỗn hợp khí Biogas Loại khí Thành phần khí CH4 50-65% CO2 30-45% N2 0-3% H2 0-1% H 2S 0-1% Nước thải sau biogas nếu không được xử lý tiếp mà xả thải vào môi trường sẽ tạo ra một lượng lớn dinh dưỡng trong nước, gây ra quá trình phú dưỡng hóa, gây ô nhiễm môi trường nước. Vì vậy, trong công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi, sau bể biogas luôn được bố trí các công trình xử lý phù hợp để xử lý nước thải đầu ra đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả vào môi trường. Các công nghệ được sử dụng Trang 6 HVTH: LÂM THẾ KIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ cho nước thải sau biogas thường là các công nghệ có khả năng loại bỏ được chất dinh dưỡng như các công nghệ ứng dụng quá trình hiếu khí kết hợp với thiếu khí.Công nghệ AAO Công nghệ AAO là công nghệ cải tiến từ quy trình AO, công nghệ này nhờ sự kết hợp giữa các quá trình kị khí, thiếu khí và hiếu khí nên có có khả năng xử lý kết hợp COD, nitơ và photpho với hiệu suất loại bỏ khá cao. Công nghệ AAO được ứng dụng xử lý các loại hình nước thải có hàm lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng cao như: nước thải sinh hoạt, nước thải bệnh viện, nước thải ngành chế biến thủy hải sản, nước thải ngành sản xuất bánh kẹo - thực phẩm, nước thải chăn nuôi.
Nước thải được đưa qua bể kị khí, thiếu khí rồi đến hiếu khí. Để tăng khả năng loại bỏ phopho và nitơ, bùn thải được tuần hoàn từ bể lắng về bể kị khí và nước thải được tuần hoàn từ bể hiếu khí về bể thiếu khí. Ở bể kị khí, bùn đã tích lũy photpho tuần hoàn về từ bể hiếu khí sẽ giải phóng photpho đơn. Tại bể thiếu khí, vi khuẩn sử dụng nitrat làm nhiệm vụ khử nitrat, loại bỏ nitơ ra khỏi nước thải.