Đặt vấn đề Cá tra (Pagasianodon hypophthalmus) là loài thủy sản nuôi chủ yêu ở nước ta. Cùng với khả năng thích ứng với môi trường khắc nghiệt, đễ nuôi, lớn nhanh, hiệu quả kinh tế cao nên diện tích nuôi không ngừng được mở rộng và mật độ nuôi cũng được tăng theo từng năm. Việc nuôi với mật độ cao kèm theo các yếu tố như thức ăn, hóa chat, biến đối khí hậu, các yếu té vô sinh, hữu sinh làm cho bệnh trên cá xảy ra thường xuyên hơn với sự xuất hiện của các nhóm tác nhân gây bệnh chính như ký sinh trùng (Trichodina sp., Ichthyophthyrius multifilii), vi nam (Saprolegnia, Achlya, Aphanomyces, Fusarium). Trong đó, bệnh do tác nhân vi khuẩn là bệnh thường gặp và gây ra thiệt hại nghiêm trọng nhất đối với nghề nuôi cá nói chung và nghề nuôi cá tra nói riêng.
Một số loài vi khuẩn đã được xác định như Edwardsiella ictaluri, Aeromonas hydrophila, Flavobacterium columnare, Streptococcus agalactiae (Oanh, Phương và ctv, 2005). ictaluri là tác nhân chính gây ra bệnh gan thận mủ trên một số loài cá da trơn (Crumlish, Dung va ctv, 2002) được phân lập đầu tiên ở cá nheo Mỹ (Uctalurus furcatus) (Hawke, 1979). Trên thé giới đã có nghiên cứu phát hiện vi khuẩn Z. ictaluri gây bệnh trên cá rô phi (Oreochromis niloticus) (Soto và ctv, 2012).
Bệnh gan thận mủ (BNP) xảy ra ở hầu hết các giai đoạn phát triển của cá tra. Trong một vụ nuôi, bệnh có thể xuất hiện 3 - 4 lần, đặt biệt ở giai đoạn cá giống gây thiệt hại rất lớn, tỉ lệ hao hụt lên đến 90% nếu không chữa trị kịp thời (Dung và ctv, 2003). Trong các bệnh trên cá tra, thì bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết trên cá tra là các bệnh xuất hiện nhiều nhất và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người nuôi cá tra thâm canh (Dung, 2017). Vào năm 2021, Luu và ctv cho thấy ở các trang trại cá tại Việt Nam, có 23 loại thuốc kháng sinh và hóa chất khác nhau (thuộc 11 nhóm) được sử dụng, mỗi hộ nuôi cá tra sử dụng ít nhất 17 loại thuốc và hóa chất nhằm diệt khuẩn, quản lí chất lượng nước và phòng trị bệnh.
Hiện tượng kháng thuốc làm cho việc điều trị ngày càng kém hiệu quả và gây thiệt hại nhiều, chúng còn làm ô nhiễm môi trường nước ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh nuôi trồng thủy sản. Phương pháp phòng và trị bệnh truyền thống đã lạm dụng sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất diệt khuan đã gia tăng những chủng vi khuẩn gây bệnh kháng kháng sinh đặc biệt là vi khuẩn gây bệnh gan thận mủ do E. ictaluri trên cá tra (Dung 1 và ctv, 2008; Thịnh và Loan, 2007). Hiện nay, có nhiều nghiên cứu và ứng dụng thành công việc sử dụng các chat tăng cường hệ miễn dich tự nhiên và có phô phòng ngừa bệnh rộng trên các động vật thủy sản (Bricknell và Dalmo, 2005; Sakai, 1999).
Hơn thế nữa, phương pháp trị liệu sinh học bang vi sinh vật có lợi (probiotic) được mong đợi và trở thành công cụ phòng ngừa, điều trị nhiều bệnh hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản (Balcazar và ctv, 2006; Gatesoupe, 1999). Bên cạnh đó, sử dụng thảo dược trong phòng trị bệnh đặc biệt là những bệnh nhiễm khuẩn đang ngày càng trở nên phổ biến, vì có nhiều ưu điểm như nguyên liệu dé tìm kiếm, giá thành thấp, chứa nhiều chất có hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng stress (Rattanachaikunsopon và Phumkhachorn, 2009; Chakraborty và Hancz, 2013). Vì vậy, dé thay thé dần phương pháp phòng bệnh truyền thống, phương pháp phòng và trị bệnh bằng liệu pháp sinh học và sử dụng các sản pham co nguồn gốc thảo dược sẽ là công cụ mong đợi trong việc phòng điều trị bệnh gan thận mủ và nâng cao hiệu quả nuôi cá tra giống. Mục tiêu của đề tài Xác định được các chất/sản phẩm sinh học có nguồn gốc từ thảo được có hiệu qua trong phòng trị bệnh gan thận mủ ở cá tra giống.
Xác định được các chất/sản phẩm sinh học có nguồn gốc từ sinh học có hiệu quả trong phòng trị bệnh gan thận mủ ở cá tra giống. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Điều tra, đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng hoạt chất chính trong các sản phẩm thông dụng trên thị trường kiểm soát bệnh gan thận mủ do Edwardsiella ictaluri gây ra trên cá tra nuôi. Nội dung 2: Xác định ngưỡng gây chết 50% (LDso) của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri đôi với cá tra giỗng 5 - 10 g. Nội dung 3: Thử nghiệm hiệu quả sử dụng hoạt chất chính trong các sản phẩm đã sảng lọc trong phòng trị bệnh gan thận mủ trên cá tra quy mô phòng thí nghiệm.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về cá tra Họ Cá tra (danh pháp khoa học: Pangasndae) là tên gọi một ho chứa khoảng 28 loài cá nước ngọt đã biết thuộc bộ Cá đa trơn (Siluriformes). Tên khoa học của cá tra là Pangasianodon hypophthalmus. Các loài trong họ này được tìm thấy trong các vùng nước ngọt và nước lợ, dọc theo miền nam châu Á, từ Pakistan tới Borneo.
Theo Phạm Đình Văn (2010), Cá tra được phân loại khoa học như sau: Ngành : Chorata Lớp : Actinopterygii Bộ : Siluriformes Họ : Pangasiidae Giống : Pangasius Hình 2. (Nguồn https://nongsanhaugiang. com vn/vn/seed/NSHG632248). Bao gồm các loài Pangasius hypophthalmus, Pangasius conchophilus, Pangasius bocourti, Pangasius larnaudii, Pangasius macronemus và Pangasius krempli.
Các loài ca tra đều có da trơn (không vay), thân dai, thon và dep. Lung có màu xám den, bụng có màu trắng bạc, vây lưng cao, vây ngực có ngạnh. Miệng rộng, có 2 đôi râu dài. Kích cỡ của cá tra tuỳ thuộc vào từng loài.
Loài cá tra nuôi ở Việt Nam có kích thước khi trưởng thành khoảng 4 - 5 kg/con. Tuy nhiên trên thực tế cũng có con nặng khoảng 10 - 20 kg. Cá có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều chất hữu cơ, oxy hòa tan thấp, có thể nuôi với mật độ cao và có thé sống được ở vùng nước lo (nồng độ muối 7 - 10 %o). Trong tự nhiên, cá tra phân bó nhiều nhất ở lưu vực sông Mê Kông thuộc các nước Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam.
Ngoài ra ở Thái Lan, người ta còn tìm thấy loài cá nảy trên sông Phraya. Ở phần sông Mê Kông của Việt Nam thường ít thấy cá tra trưởng thành xuất hiện. Bởi vì khi đến tuôi trưởng thành, cá tra có tập tính di cư ngược sông Mê Kông để tìm bãi đẻ tự nhiên. Cá tra có tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật.
Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau quả và thức ăn có nguồn gốc động vật như tôm tép, cua, côn trùng, ôc và cá. Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi 3 với nhiều loại loại thức ăn khác nhau như: thức ăn tự chế, thức ăn công nghiệp, cám, tam, rau muống. Thức ăn có nguồn gốc động vật giúp cá lớn nhanh hơn (Kiểm, 2004). Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, lúc còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài.
Cá ương trong ao sau 2 tháng đạt chiều đài từ 10 - 12 cm (14 - 15 g). Từ khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với chiều dài cơ thể. Cá tra không sinh sản trong ao nuôi, cá có tập tinh di cư sinh sản trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp. Cá tra có tập tính di cư ngược dong.
Mùa vụ sinh sản của cá trong tự nhiên bat đầu từ tháng 5 - 7 âm lịch hàng năm. Ca tra khi đã đạt độ tuổi thuần thục (cá đực 2 năm tuổi, cá cái 3 năm tuổi) thì mới có khả năng sinh sản. Trọng lượng cá thuần thục lần đầu khoảng 2,5 - 3 kg. Sức sinh sản tùy thuộc vào độ tuôi của cá.
Trung bình một con cá tra đẻ mỗi lần khoảng 30. Bệnh gan thận mủ trên cá tra eieli£-.x4x2t tài xáa tis = Sits they Are Hình 2. Cá tra nhiễm vi khuẩn Ƒ. Bénh mu gan (bénh đốm trắng trên gan, thận) trên cá tra do nhóm vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra (Crumlish và ctv, 2002).
Bệnh này nếu nhẹ thường khó được phát hiện sớm do cá bệnh ít có biểu hiện bên ngoài. Cá bị nhiễm bệnh gan thận mủ thường ăn kém hoặc bỏ ăn tùy theo bệnh nhẹ hay nặng. Quan sát bên ngoài có thé thay bụng hơi sưng to, mắt bị đục. Cá bệnh thường bơi lờ đờ gần bề mặt ao.
Khi mé bụng cá ta thường thấy những đốm trắng nhỏ (như đốm mủ) trên bề mặt của một số cơ quan như gan, thận và lách. Nếu nặng, cá bỏ ăn bơi lờ đờ trên mặt nước, thường nhào lộn và xoay tròn, thường không phản ứng với tiếng động. Những tổn thương ở gan lan rộng làm gan không còn chức năng khử độc và lọc máu, làm chất độc tích tụ trong cơ thể kết hợp với những yếu tố khác làm cá chết. Một số cá xuất huyết tat cả các vi hoặc xuất huyết toàn thân và nếu xuất huyết trầm trọng thì khi nhấc cá ra khỏi nước máu sẽ chảy ra từ da và 4 mang cá và khi mồ một số cá mới chết thì thấy túi mật bị vỡ, dịch mật lan tràn khắp nội tạng do ống dẫn mật và túi mật đã họai tử.
Một số cá có biểu hiện mau sắc nhợt nhạt, có nhiều đốm lớn, nhỏ trên da. Số lượng cá chết hàng ngày tăng cao và tỉ lệ tăng dần. Tốc độ lây lan của bệnh rất nhanh, trong điều kiện thí nghiệm, chỉ khoảng 3 - 4 ngày là toàn bộ số cá nuôi trong bề đều nhiễm bệnh, vì vậy việc điều trị phải làm triệt để và đồng bộ. Tình hình bệnh gan thận mủ trên cá tra Bệnh gan thận mủ được xem là một trong những bệnh thường xuất hiện và nguy hiểm nhất.
Theo báo cáo của Cục Thú Y, trong năm 2013 các loại dịch bệnh trên cá tra đã xảy ra tại 71 xã thuộc 21 huyện của 6 tỉnh nuôi cá tra tập trung ở ĐBSCL với tổng diện tích ao cá có cá nhiễm bệnh là 732,1 ha trong đó bệnh gan thận mủ chiếm tỷ lệ cao nhất (48%). Bệnh gan thận mủ trên ca tra đã được xác định là do tác nhân vi khuẩn E. ictaluri (Crumlish và ctv, 2002) gây ra. Dang chú ý, năm 2020 tổng diện tích cá tra được ghi nhận bị thiệt hại do bệnh là 1.426 ha tại 37 xã, phường thuộc 13 quận, huyện của 4 tỉnh, thành phố.
Các bệnh thường gặp gồm: bệnh gan thận mủ, bệnh do ký sinh trùng, bệnh xuất huyết.