Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Môi trường rừng Đến nay, khái niệm môi trường rừng đã được sử dụng rộng rãi và được ban hành chính thống trong các văn bản pháp lý. Từ các nghị định của Chính phủ, qua thời gian, khái niệm này có sự thay đổi.
Ở Nghị định năm 2010, môi trường rừng được định nghĩa bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí và cảnh quan thiên nhiên. Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật (Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2010) [2]. Đến năm 2018, khái niệm này ngắn gọn và súc tích hơn. Theo đó, môi trường rừng được định nghĩa là một bộ phận của hệ sinh thái rưng, bao gồm: đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng và các yếu tố vật chất khác tạo nên cảnh quan rừng (Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2018) [4].
Dịch vụ môi trường rừng Theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP, Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ sau (Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2010) [2]: - Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; - Điều tiết và duy trì nguồn nước; - Hấp thụ và lưu giữ các bon, giảm phát thải khí nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển bền vững; 5 - Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ du lịch; - Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản. Chi trả dịch vụ môi trường rừng Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Về hình thức chi trả DVMTR, theo Phạm Thu Thủy và cộng sự, có hai hình thức chi trả DVMTR đó là: Chi trả trực tiếp: bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng, có khả năng và điều kiện thực hiện việc trả tiền thẳng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng không cần thông qua tổ chức trung gian. Việc chi trả được thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận tự nguyện phù hợp với quy định.
Chi trả gián tiếp: thông qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam hoặc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh hoặc cơ quan, tổ chức làm thay nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Chi trả gián tiếp có sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước, giá dịch vụ môi trường rừng do Nhà nước quy định (Phạm Thu Thủy và cộng sự, 2013) [22]. Khả năng giữ nước của rừng Khả năng giữ nước của rừng có thể được thể hiện qua sự giảm tỷ lệ dòng chảy mặt, tăng lượng nước ngầm, giảm cường độ và tần xuất xuất hiện lũ trên các sông suối, ổn định giòng chảy giữa các mùa trong năm. Khả năng giữ nước của rừng có giới hạn, nó phụ thuộc nhiều vào đặc điểm cấu trúc 6 rừng và đặc điểm của đất rừng như (độ xốp, cấu tượng đất, tốc độ thấm nước, hàm lượng mùn, độ dày tầng đất).
Những đặc điểm về cấu trúc lớp phủ thực vật, đất và địa hình quyết định dung tích chứa nước của rừng và đất rừng (Vu Chí Dân và Vương Lễ Tiên, 2001) [5], (Vu Chí Dân và cộng sự, 2001) [6]. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Lượng giá trị của rừng Rừng đóng vai trò quan trọng đối với môi trường, rừng mang lại lợi ích lớn như: điều hoà khí hậu, bảo vệ và phục hồi đất, giảm xói mòn, làm sạch nguồn nước, hấp thu carbon trong không khí (Schlamadinger and Marland, 1996) [63], (Heinrichs and Mayer, 1980) [46]… Qua thời gian, con người đã hiểu sâu hơn về ảnh hưởng của rừng tới môi trường. Những hiểu biết này đã trở thành cơ sở khoa học thực tế trong các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn, chắn sóng, bảo vệ đất, giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu (Dale et al., 2001) [39], (Bao, 2011) [29], (Piirainen, Finér, and Starr, 1998) [57]… Trước những nhận thức về sinh thái mà con người càng ngày càng rõ hơn về giá trị môi trường của rừng và sự cần thiết phải xác định nó trong một hệ thống hạch toán đầy đủ vì sự phát triển bền vững.
Những nỗ lực nghiên cứu trong việc xác định giá trị của rừng đã làm cho nhận thức của con người về giá trị của rừng ngày càng đầy đủ hơn. Cho đến nay, quan điểm về giá trị của rừng đầy đủ nhất có thể nói đến công bố của (Vũ Tấn Phương và cộng sự, 2007) [16]. Theo đó, giá trị của môi trường được xét đến ở 05 khía cạnh bao gồm: (1) Giá trị sử dụng trực tiếp: Là giá trị của những nguyên liệu thô và những sản phẩm vật chất được sử dụng trực tiếp trong các hoạt động sản xuất, tiêu dùng và mua bán của con người như thức ăn, cây thuốc, vật liệu gen,. (2) Giá trị sử dụng gián tiếp: Là giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trường và chức năng sinh thái mà rừng tạo ra như duy trì chất lượng nước, giữ dòng 7 chảy, điều tiết lũ lụt, kiểm soát xói mòn, phòng hộ đầu nguồn, hấp thụ các bon,.
(3) Giá trị lựa chọn: Là những giá trị chưa được biết đến của nguồn gen, các loài động vật hoang dã trong rừng và các chức năng sinh thái rừng khi chúng được đưa vào ứng dụng trong lĩnh vực giải trí, dược phẩm, nông nghiệp, trong tương lai; (4) Giá trị để lại: Là những giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp mà các thế hệ sau có cơ hội được sử dụng; (5) Giá trị tồn tại: Là giá trị nội tại đi kèm với sự tồn tại của các loài trong rừng và hệ sinh thái rừng mà không kể đến việc sử dụng trực tiếp như ý nghĩa về văn hoá, thẩm mỹ, di sản và kế thừa. Chính vì những giá trị của môi trường rừng rất lớn, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu và ước tính được giá trị môi trường rừng. Giá trị dịch vụ môi trường rừng toàn thế giới được ước tính ước tính khoảng 16-54 nghìn tỷ đô la Mỹ mỗi năm, với mức trung bình là 33 nghìn tỷ đô la Mỹ, do tính chất không ổn định của thiên nhiên, con số này chỉ được ước lượng với giá trị thấp nhất (Costanza et al. Ở Iran, nghiên cứu cho thấy mỗi ha rừng Bazoft có thể chứa 84,8 m3 nước với giá trị 0,5 USD/m3.
Giá trị giữ nước của mỗi ha rừng sẽ là 43 USD. Điều này mang lại tác động kinh tế tích cực cho khu vực và sẽ giúp các nhà quản lý ra quyết định lựa chọn các chiến lược phát triển phù hợp và khả thi (Mashayekhi et al. Hệ sinh thái rừng ở Bắc Kinh có thể ngăn tới 1,43 tỷ mét khối nước mưa và 277,82 triệu mét khối nước ngầm và cung cấp 286,67 triệu mét khối nước ngọt, giá trị kinh tế ước tính tương ứng khoảng 2,77 tỷ, 2,15 tỷ và 315,33 triệu nhân dân tệ (8,28 nhân dân tệ = 1 USD), Tổng giá trị kinh tế của việc bảo tồn nguồn nước do rừng Bắc Kinh cung cấp là 5,23 tỷ nhân dân tệ, và lợi ích kinh tế trên mỗi ha là 5.704 nhân dân tệ (Biao, Wenhua, Gaodi, and Yu, 2010) [32]. Việc lượng giá những hiệu quả của môi trường rừng mang lại thành tiền và đưa vào hệ thống hạch toán kinh tế đầy đủ của nghề rừng là cơ sở để cân nhắc đưa ra những quyết định đúng đắn trong quản lý rừng, trong liên kết 8 các ngành kinh tế, liên kết các lực lượng xã hội để bảo vệ và phát triển rừng (Farber et al., 2002) [42], (Costanza et al.
Xác định giá trị của DVMTR và giá trị giữ nước là một việc phức tạp vì phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội. Có các phương pháp định giá tài nguyên như sau: Phương pháp giá thị trường: hiệu quả môi trường rừng được xác định thông qua giá cả của những hàng hóa dịch vụ tương tự. Phương pháp chi phí cơ hội: hiệu quả môi trường rừng được tính bằng phần gia tăng thu nhập của người làm rừng khi họ chuyển sang phương thức sử dụng đất khác Phương pháp dùng chi phí phát sinh: thì hiệu quả môi trường rừng được tính bằng số tiền mà cơ sở sản xuất phải chi phí thêm để bảo vệ môi trường khi không có rừng. Phương pháp tổn thất lợi ích: hiệu quả môi trường rừng được tính bằng tổn thất lợi nhuận của cơ sở sản xuất trong trường hợp không có rừng Ngoài ra còn có các phương pháp khác như phương pháp thị trường thay thế, phương pháp hàm sản xuất và phương pháp bày tỏ sở thích.
Tiêu chuẩn để đánh giá tính thích hợp của một phương pháp lượng giá hiệu quả môi trường rừng là tính khoa học, khách quan và cho kết quả được bởi tất cả các bên. Các phương pháp phổ biến để xác định hiệu quả môi trường thường dựa vào các chỉ tiêu xã hội học (mức độ sẵn sàng chi trả, định giá ngẫu nhiên) và các kết quả đo đạc môi trường bằng các chỉ tiêu sinh học và vật lý (chỉ tiêu lý sinh). Tất cả các kết quả sau khi tính toán đều được quy thành tiền. Phương pháp xác định bằng chỉ tiêu lý sinh thể hiện hiệu quả các chức năng môi trường của rừng và xây dựng hiệu quả các giải pháp nâng cao hiệu quả môi trường rừng.
Phương pháp này có nhược điểm là không thể so sánh với các quy chuẩn, trao đổi với các loại hình dịch vụ hàng hoá khác, điển hình là 9 không được đưa vào hệ thống hạch toán kinh tế nói chung.