Chương 1: Giới thiệu Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian và khả năng thực hiện nghiên cứu nên nghiên cứu còn một số hạn chế sau: - Bức tranh tổng thể về hiện tƣợng đƣợc vẽ dựa vào thông tin thu thập từ nhiều nguồn. Các nguồn thông tin này thƣờng là những bài báo đăng trên các báo, tạp chí phổ thông nên thông tin có thể không mang tính khoa học mà thiên về nhận định mang tính chủ quan của ngƣời viết. - Hiện tƣợng thu mua nông sản lạ diễn ra ở nhiều nơi nhƣng tác giả chỉ tiến hành thực địa ở một số địa bàn nhất định. Do đó, không thể kiểm định tính xác thực của toàn bộ thông tin thứ cấp đã thu thập đƣợc.
Nghiên cứu giới hạn cho 4 sản phẩm “lạ” ở 3 tỉnh thành thuộc vùng ĐBSCL nên kết quả nghiên cứu chỉ phản ánh những thông tin liên quan đến những sản phẩm nêu trên tại những địa bàn đƣợc chọn. Kết quả này có thể không tổng quát hóa đối với hiện tƣợng đã xảy ra tại các địa bàn khác. Do đó việc vận dụng những kết quả nghiên cứu này vào các sản phẩm khác tại các địa bàn khác có thể không phù hợp. - Việc khó tiếp cận các thƣơng lái Trung Quốc nên nghiên cứu tập trung vào thông tin thu thập đƣợc từ những ngƣời nông dân, thƣơng lái trong nƣớc, cán bộ địa phƣơng nơi đến thực địa, chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu.
Do đó thông tin thu thập đƣợc chỉ phục vụ cho việc nghiên cứu vấn đề theo góc nhìn từ phía chúng ta. Mặc dù còn một số hạn chế nhất định, đây có thể là một trong những nghiên cứu đầu tiên tìm hiểu về hiện tƣợng thu mua nông sản lạ một cách khoa học. Nghiên cứu này kỳ vọng sẽ phân tích hiện tƣợng và cung cấp thông tin hữu ích cho những ngƣời quan tâm, đặc biệt là những chủ thể liên quan trực tiếp, những ngƣời làm công tác quản lý ở địa phƣơng và những nhà hoạch định chính sách. 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Một số khái niệm 2.1 Thị trƣờng nông sản và cơ cấu tổ chức thị trƣờng nông sản Thị trường nông sản (Đinh Phi Hổ, 2003): là tập hợp những thỏa thuận, dựa vào đó ngƣời bán và ngƣời mua trao đổi đƣợc các hàng hóa nông sản và các dịch vụ cho nhau.
Có hai cách mô tả cơ cấu tổ chức của dây chuyền phân phối nhƣ sau: - Timmer (1983): Có 5 dây chuyền phân phối khác nhau có thể hoạt động ở thị trƣờng nông sản. Ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng ở nông thôn. Ngƣời sản xuất, ngƣời bán lẻ nông thôn và ngƣời tiêu dùng nông thôn. Ngƣời sản xuất, ngƣời thu gom và ngƣời chế biến ở địa phƣơng và ngƣời tiêu dùng ở nông thôn.
Ngƣời sản xuất, ngƣời thu gom và ngƣời chế biến ở địa phƣơng, ngƣời bán buôn ở thành thị, ngƣời bán lẻ ở thành thị và ngƣời tiêu dùng ở thành thị. Ngƣời sản xuất, ngƣời thu gom và ngƣời chế biến không ở địa phƣơng, ngƣời bán buôn ở thành thị, ngƣời bán lẻ ở thành thị và ngƣời tiêu dùng ở thành thị. - Hill và Insergent (1977): Mô tả tổng quát cơ cấu một dây chuyền phân phối nông sản nhƣ sau: Ngƣời Ngƣời Ngƣời Ngƣời Ngƣời sản xuất Thu gom buôn bán bán lẻ Tiêu dùng Hình 2.1: Dây chuyền phân phối 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Theo hình mô tả dây chuyền phân phối, hàng triệu ngƣời sản xuất bán sản phẩm của mình cho một số ít thƣơng nhân, những ngƣời này thực hiện chức năng mua gom các lô hàng nhỏ lại thành những lô hàng lớn bán lại cho ngƣời bán buôn hoặc chế biến. Số ngƣời bán buôn và chế biến ít hơn rất nhiều so với ngƣời thu gom nên phía cuối dây chuyền sẽ mở rộng ra vì sản phẩm vào tay rất nhiều ngƣời bán lẻ và cuối cùng là đến hàng triệu ngƣời tiêu dùng.
Dây chuyền này hoạt động theo nguyên tắc chung, mỗi lần chuyển giao quyền sở hữu đều kéo theo một lần định giá, do đó sẽ có một hệ thống giá. Giá ngƣời nông dân bán cho các tổ chức tham gia dây chuyền phân phối là giá của ngƣời sản xuất (hoặc là giá ở cổng trại). Giá mà ngƣời tiêu dùng phải trả là giá bán lẻ. Giá đƣợc ấn định từ ngƣời thu gom đến ngƣời bán lẻ đƣợc xem nhƣ là giá bán buôn.2 Nhận dạng chuỗi cung ứng nông sản lạ và các chủ thể liên quan Trên cơ sở lý thuyết về cơ cấu thị trƣờng nông sản cũng nhƣ cơ cấu một dây chuyền phân phối nông sản ở mục [2.
Mặt khác từ các thông tin đƣợc phản ánh qua các phƣơng tiện truyền thông ta có thể nhận dạng chuỗi cung ứng nông sản lạ đối với thị trƣờng thu mua nông sản lạ ở Việt Nam nhƣ sau: Thƣơng lái Thƣơng lái Thƣơng Nông dân nhỏ trong lớn trong lái Trung nƣớc nƣớc Quốc CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG Hình 2.2: Chuỗi cung ứng nông sản lạ Các chủ thể tham gia trong chuỗi cung ứng nông sản lạ, trong đó: - Nông dân là ngƣời sản xuất trong cơ cấu một dây chuyền phân phối nông sản cũng nhƣ là ngƣời sản xuất và khai thác nông sản lạ trong chuỗi cung ứng nông sản lạ. - Thƣơng lái (nhỏ/lớn) trong nƣớc là ngƣời thu gom, ngƣời buôn bán, ngƣời bán lẻ nông sản và là ngƣời nắm thông tin về nhu cầu nông sản lạ. Thƣơng lái nhỏ là những ngƣời thu mua trực tiếp tại nhà vƣờn của nông dân và bán lại cho các thƣơng lái lớn nhƣ các vựa thu mua. 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết - Thƣơng lái Trung Quốc có thể hiểu là ngƣời bán buôn, ngƣời bán lẻ hoặc ngƣời tiêu dùng và thực tế là ngƣời hiểu rõ nhất nhu cầu thực sự về nông sản lạ cần tìm mua.
- Chính quyền địa phƣơng là chủ thể gián tiếp tham gia vào chuỗi cung ứng nông sản thông qua qui định, luật định đã đƣợc ban hành nhằm quản lý thị trƣờng nông sản.3 Khái niệm nông sản lạ Theo các phƣơng tiện truyền thông (Pháp luật Tp.HCM, 2014) thì nông sản lạ đƣợc chia thành hai loại: Thứ nhất, là các mặt hàng xác định đƣợc giá trị và nhu cầu sử dụng, nhƣng thị trƣờng tiêu thụ không rõ ràng nhƣ lá khoai lang, dứa xanh (thực phẩm rau xanh), địa sâm, cây sắn (đặc sản), rễ sim, cây cò ke (làm thuốc). Thứ hai, là các mặt hàng không xác định đƣợc giá trị và nhu cầu sử dụng, đồng thời thị trƣờng tiêu thụ cũng mơ hồ, khó xác định nhƣ lá điều khô, rễ hồ tiêu, đỉa, móng trâu, móng bò.1: Phân loại mặt hàng nông sản lạ Phân loại Giá trị và nhu cầu sử dụng Thị trƣờng tiêu thụ Loại 1 Biết Không biết Loại 2 Không biết Không biết 2.4 Khái niệm nông sản lạ đƣợc sử dụng trong nghiên cứu Tuy có hai loại nông sản lạ nhƣ các phƣơng tiện truyền thông thƣờng phản ánh, nhƣng trong nghiên cứu này, khi nói đến các mặt hàng nông sản lạ là nói đến các mặt hàng thuộc cả hai loại nhƣ trên không phân biệt loại 1 hay loại 2 mà đƣợc gọi chung là “nông sản lạ”.2 Lịch sử quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam và Trung Quốc Lịch sử của Việt Nam gắn liền với lịch sử quan hệ thƣơng mại với các nƣớc. Có thể chia lịch sử quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam – Trung Quốc thành các giai đoạn nhƣ sau: 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Giai đoạn phong kiến 1 (Từ cuối TKII TCN đến TK XIX) Giai đoạn trƣớc CMT8 2 (Từ 1884 đến 1945) Các giai đoạn lịch sử quan hệ 3 Giai đoạn 1945 - 1975 thƣơng mại Việt Nam - Trung Quốc 4 Giai đoạn 1975 - 1990 5 Giai đoạn 1991 - 1999 6 Giai đoạn 2000 - nay Hình 2.3: Lịch sử quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc 2.1 Giai đoạn phong kiến (từ cuối thế kỷ thứ II TCN đến thế kỷ XIX) Trong giai đoạn phong kiến, lịch sử quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc phân thành hai thời kỳ: thời kỳ Bắc thuộc từ những năm cuối thế kỷ II TCN đến thế kỷ X và thời kỳ tự chủ từ năm đầu thế kỷ thứ X đến cuối thế kỷ thứ XIX. Đây là giai đoạn Việt Nam có mối quan hệ giao thƣơng phụ thuộc chủ yếu nhà nƣớc Trung Quốc phong kiến.
- Thời kỳ Bắc thuộc Giao thƣơng buôn bán ở miền Bắc Việt Nam (vùng Giao Chỉ - về hình thức là 1 tỉnh của Trung Quốc) diễn ra trên cả đƣờng thủy và đƣờng bộ với các nƣớc khác trong khu vực Đông Nam Á. Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam (dangcongsan.vn, 2003) cho rằng trong giai đoạn này hàng hóa bán ra các nƣớc chủ yếu là hƣơng liệu, lâm sản quý, vải, gấm, giấy bản đƣờng. Trong khi đó, hàng hóa nhập vào chủ yếu là các hàng xa xỉ phẩm, phục vụ cho chính quyền quan lại đô hộ và tầng lớp quý tộc. - Thời kỳ tự chủ Suốt gần mƣời thế kỷ, lịch sử không chỉ chứng kiến những cuộc chiến tranh lớn do các triều đại Trung Quốc phát động mà còn chứng kiến những mối quan hệ giao hảo giữa Việt Nam với các triều đại phong kiến Trung Quốc cả về chính trị, kinh tế, văn hóa… Hoạt động thƣơng mại trong thời kỳ này chủ yếu thông qua hoạt động triều 9 Chương 2: Cơ sở lý thuyết cống và thƣơng mại trên bộ đƣợc diễn ra dọc tuyến biên giới giữa hai nƣớc (Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2012).
Ngoài ra, theo Stuart-Fox (2003), Trung Quốc vẫn là nƣớc có sức mạnh và chiếm ƣu thế trong việc chi phối nền kinh tế và trật tự thế giới. Các triều đại Trung Quốc tiếp tục khẳng định vị thế kiểm soát nền kinh tế. Hàng hoá và thị trƣờng chỉ Trung Quốc mới có thể cung cấp. Đây là hình thức độc quyền thị trƣờng hàng hóa Trung Quốc.2 Giai đoạn trƣớc Cách mạng tháng 8 Với hiệp ƣớc Hòa Thân – 1884 và hiệp ƣớc Thiên Tân – 1885 đã chấm dứt việc triều cống của triều đình Huế đối với nhà Thanh và đánh dấu quyền thống trị của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Theo Bộ Công thƣơng Việt Nam cho rằng trong giai đoạn này ngƣời Hoa đóng vai trò quan trọng trong việc nhập cảng và tiêu thụ nội địa. Về xuất khẩu, ngƣời Hoa chiếm thị phần lớn trong việc thu mua, chế biến và xuất khẩu lúa gạo của toàn vùng Nam Bộ.