Đặt vấn đề Sán lá truyền lây qua cá (SLTQC) hiện vẫn đang là một vấn nhức nhối đối với sức khỏe cộng đồng các nƣớc thuộc khu vực Châu Á. SLTQC nhƣ sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis và Opisthorchis viverrini gây ra các bệnh lý về gan mật, nhƣ xơ gan, tắc ống mật và thậm chí là có thểdẫn tới ung thƣ đƣờng ống mật ở ngƣời bệnh [1–3]. Con ngƣời nhiễm SLTQC do ăn gỏi cá hoặc cá nấu chƣa chín có nhiễm ấu trùng các loài sán này. Do vậy, việc nghiên cứu về ấu trùng SLTQC trên cá là yêu cầu cấp bách nhằm tạo cơ sở khoa học để kiểm soát SLTQC, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Ở nƣớc ta, những năm gần đây, SLTQC trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã bắt đầu đƣợc quan tâm bởi nó liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm. Đã có nhiều nghiên cứu khảo sát về ấu trùng SLTQC tại nhiều vùng trong cả nƣớc nhƣ đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và miền Trung. Những khảo sát này đều đã ghi nhận sự hiện diện ấu trùng SLTQC trên động vật thủy sản (cá) nhƣ một mối nguy đối với sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt, ấu trùng của các loài sán lá ruột nhỏ nhƣ Haplorchis pumilio chƣa từng đƣợc ghi nhận trên ngƣời thì thì nay xuất hiện phổ biến ở cá.
Trong khi đó, ấu trùng sán lá gan nhỏ C. sinensis, đƣợc cho là nhiễm phổ biến trên ngƣời [4–6] và động vật thủy sản [5,7] thì những nghiên cứu gần đây lại ít gặp và có mức độ nhiễm thấp trên động vật thủy sản, cá [8–11]. Khu vực miền núi phía Bắc (MNPB) là vùng thƣợng nguồn của hệ thống sông ngòi tạo nên vùng châu thổ sông Hồng; nơi này có các hệ thống sông suối, hồ chứa lớn, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của động vật thủy sản nhƣ cá, tôm,… đây là nguồn thực phẩm quan trọng của ngƣời dân và cũng có thể là mối nguy với sức khỏe bởi SLTQC do tập quán ăn gỏi cá ở đây [12]. Hiện nay, hầu nhƣ chƣa có khảo sát nào về vấn đề SLTQC trên các động vật thủy sản tại MNPB, ngoại trừ có báo cáo về ấu trùng sán lá ruột Centrocestus formosanus nhƣng là trên khía cạnh tác nhân gây bệnh cho cá [13].
Chính vì vậy, cần thiết phải tiến hành khảo sát 2 về ấu trùng SLTQC tại đây nhằm bổ sung thông tin về vùng dịch tễ, đối tƣợng nhiễm và sự biến động mùa vụ để thấy đƣợc bức tranh tổng thể về hiện trạng SLTQC ở Việt Nam nói chung. Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu về SLTQC ở Việt Nam trong thời gian gần chủ yếu trung vào điều tra, khảo sát nhằm xác định vùng phân bố của SLTQC, mức độ nhiễm và đối tƣợng nhiễm. Tập quán ăn gỏi cá vẫn khá phổ biến không chỉ ở khu vực ĐBSH [14] mà cả MNPB [12]. Trong khi đó, những mô hình can thiệp thử nghiệm nhằm giảm thiểu sự lây nhiễm ấu trùng SLTQC trong nuôi hệ thống NTTS vẫn chƣa thực sự hiệu quả [10,15,16].
Do vậy cần phải có những nghiên cứu xác định các điều kiện để vô hiệu hóa khả năng lây nhiễm của ấu trùng SLTQC cho con ngƣời, đây là cơ sở khoa học để xây dựng các hƣớng dẫn trong bảo quản, chế biến sản phẩm thủy sản đảm bảo an toàn với SLTQC nhƣ sán lá gan nhỏ C. Với kinh nghiệm, hiểu biết và trăn trở của bản thân về vấn đề SLTQC ở Việt Nam, chúng tôi đã triển khai Đề tài “Nghiên cứu hiện trạng ấu trùng sán lá có khả năng lây truyền cho người nhiễm trên cá ở Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam” làm Luận án tiến sỹ với những mục tiêu cụ thể nhƣ sau: Mục tiêu nghiên cứu 1) Xác định đƣợc thành phần ấu trùng sán lá truyền qua cá và sự phân bố của chúng trên cá ở khu vực miền núi phía Bắc; 2) Xác định đƣợc sự biến động mùa vụ của ấu trùng sán lá truyền qua cá phổ biến trên cá ở khu vực miền núi phía Bắc; 3) Xác định đƣợc các điều kiện chế biến và bảo quản có khả năng bất hoạt ấu trùng sán lá truyền qua cá; Nội dung nghiên cứu Để đạt đƣợc những mục tiêu nêu trên, Đề tài đã thực hiện 3 nội dung nghiên cứu chính nhƣ sau: 1) Nghiên cứu thành phần ấu trùng sán lá có khả năng gây bệnh cho ngƣời trên cá tại một số tỉnh (Thái Nguyên, Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên, và Sơn 3 La) thuộc khu vực miền núi phía Bắc; 2) Nghiên cứu sự biến động của ấu trùng sán lá gan nhỏ C. sinensis trên một số loài cá tại khu vực hồ Thác Bà, Yên Bái; 3) Nghiên cứu điều kiện bất hoạt và lƣu giữ ấu trùng sán lá truyền qua cá; Những đóng góp mới của Luận án Đƣa Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam vào trong bản đồ phân bố chung của sán lá truyền qua cá (ấu trùng của 6 loài sán lá gồm C. varium) ở Việt Nam, trong đó đặc biệt là nghiên cứu đã xác định đƣợc vùng dịch tễ mới và hết sức quan trọng của sán lá gan nhỏ C.
sinensis là vùng hồ Thác Bà, Yên Bái, đây không chỉ là đóng góp mới với Việt Nam mà cả với khu vực. Nghiên cứu đã phát hiện thêm 6 loài vật chủ mới gồm Tép dầu, Ngão gù, cá Nhƣng, Cháo thƣờng, Dầm đất và Bống hoa vào danh mục vật chủ của sán lá gan nhỏ tại Việt Nam, trong đó đặc biệt là cá Tép dầu T. houdemeri đƣợc xác định nhƣ vật chủ đặc trƣng, vật chủ chỉ thị của sán lá gan nhỏ C. sinensis ở Việt Nam.
Việc xác định đƣợc vật chủ chỉ thị có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc khảo sát xác định vùng dịch tễ của sán lá gan nhỏ này. Nghiên cứu đã bổ sung cơ sở khoa học mới về điều kiện bất hoạt ấu trùng sán lá truyền qua cá, đặc biệt là ấu trùng sán lá gan nhỏ C. sinensis góp phần xây dựng các hƣớng dẫn trong việc chế biến và bảo quản đúng quy trình nhằm đảm bảo an toàn đối với ấu trùng sán lá trong các sản phẩm thủy sản. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Đặc điểm vòng đời sán lá truyền qua cá SLTQC có vòng đời phức tạp qua nhiều giai đoạn vật chủ khác nhau; vật chủ trung gian thứ 1 (ốc, nhuyễn thể), vật chủ trung gian thứ 2 (cá, tôm) và vật chủ cuối cùng hay vật chủ chính (ngƣời và động vật ăn cá).1 là vòng đời của sán lá gan nhỏ C. sinensis, đại diện cho SLTQC.1: Vòng đời sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis Sán lá gan nhỏ C. sinensis trƣởng thành sản sinh ra trứng (b), trứng thoát ra ngoài theo phân của vật chủ cuối cùng, vào môi trƣờng nƣớc. Ốc (B) – Vật chủ trung gian thứ 1, trong môi trƣờng nƣớc đã thụ động hoặc chủ động nhiễm trứng sán 5 trong quá trình lọc mùn bã hữu cơ làm thức ăn.
Trong vật chủ ốc phù hợp, trứng sẽ phát triển qua một số giai đoạn (c, d, e, f) để thành trùng đuôi gọi là cercariae (f). Cercariae đƣợc thải ra ngoài môi trƣờng nƣớc khi đã phát triển hoàn thiện, sau đó xâm nhập vào cá – Vật chủ trung gian thứ 2 (C). Cercariae rụng đuôi, xâm nhập qua da, di chuyển đến các mô và phát triển thành bào nang gọi là metacercariae (g) trong loài vật chủ cá phù hợp. Ngƣời hoặc động vật ăn (A) cá sống hoặc cá nấu chƣa chín có chứa ấu trùng, nang ấu trùng bị phá vỡ trong tá tràng, sán non thoát khỏi nang và phát triển thành sán trƣởng thành (a) trong túi mật và đƣờng ống mật trong gan [17].
Nghiên cứu sán lá truyền lây qua cá trên thế giới 1. Sán lá truyền qua cá trên người 1. Sự phân bố của sán lá truyền qua cá Ngƣời đƣợc xem là vật chủ chính của SLTQC. Tổng kết qua những công trình nghiên cứu đăng trên tạp chí quốc tế, Nguyễn Mạnh Hùng và cs.
Hầu hết các nghiên cứu về SLTQC đều quan tâm đến nhóm sán lá gan nhỏ trong đó đặc biệt là C. sinensis phân bố chủ yếu ở các quốc gia và khu vực bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, khu vực miền Bắc Việt Nam và vùng Viễn Đông Nga [1,19–21]. Hiện có khoảng 200 triệu ngƣời có nguy cơ lây nhiễm và hơn 15 triệu ngƣời đã nhiễm C. sinensis trên toàn cầu, trong đó Trung Quốc có số ngƣời nhiễm nhiều nhất, khoảng 13 triệu ngƣời [17], Hàn Quốc có khoảng 1,4 triệu ngƣời nhiễm C.
sinensis và nơi có tỉ lệ nhiễm cao nhất (40-48%) là cộng đồng dân cƣ gần Sông Nakdong [22]. Vùng Viễn Đông thuộc Nga, đặc biệt khu vực gần Sông Amur, ƣớc tính có khoảng 3000 ngƣời nhiễm sán lá gan nhỏ C. Vùng dịch tễ của O. viverrini chủ yếu là các khu vực thuộc hệ thống sông 6 Mekong qua các nƣớc Thái Lan, Lào, Căm-Phu-Chia và Việt Nam.
Trong đó, Thái Lan là vùng dịch tễ lớn nhất của sán lá gan nhỏ O. viverrini, tỉ lệ nhiễm trung bình là 14%, ƣớc tính khoảng 7 triệu ngƣời nhiễm theo kết quả điều tra năm 1980-1981 [25]. Sau nhiều nỗ lực can thiệp, Thái Lan hiện có khoảng 6 triệu ngƣời nhiễm O. Tại Lào, có khoảng 1,7 triệu ngƣời nhiễm sán lá gan nhỏ O.
Vùng dịch tễ của O. viverrini trên ngƣời tại Lào cũng nằm dọc theo sông Mekong, nhƣ tỉnh Khammuane, Saravane hoặc Savannakhet, nơi có tỉ lệ nhiễm tƣơng ứng là 32,2%; 21,5% và 25,9% [27], một số vùng của huyện Saravane còn đƣợc ghi nhận tỉ lệ nhiễm loài sán lá gan này tới 58,5% trong báo cáo cách đây khoảng 10 năm [28]. Tại Căm – Pu - Chia, trong một điều tra nghiên cứu tập trung vào sán lá gan nhỏ O. viverrini tại một số cộng đồng ngƣời sống dọc sông Mekong cho thấy tỉ lệ nhiễm O.
viverrini là trên 10% [29] và trƣớc đó O. viverrini cũng đƣợc báo cáo tại đây [30]. felineus, mới đây tiếp tục đƣợc ghi nhận trên ngƣời ở khu vực phía Tây Siberia (Liên Bang Nga) nhƣ Tomsk Oblast, Khanty Mansiysk Autonomous Okrug [31]. Một điều tra dịch tễ trên ngƣời dựa trên phƣơng pháp Kato-Katz, các nhà khoa học đã cho biết có tới 55,3% số ngƣời đƣợc xét nghiệm dƣơng tính với trứng của O.
felineus tại cộng đồng dân cƣ khu vực phía Tây Siberia [32]. Vấn đề sức khỏe cộng đồng Một số loài SLTQC có ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng nhƣ sán lá gan nhỏ. Sán lá gan nhỏ có thể tồn tại trong ống mật của ngƣời bệnh tới 26 năm [33]. Năm 2009, Hiệp hội nghiên cứu ung thƣ quốc tế đã xếp sán lá gan nhỏ C.
viverrini vào nhóm tác nhân gây ung thƣ (nhóm 1) ở ngƣời [34].