Đặt vấn đề Cuộc khủng hoảng năng lƣợng đang trở nên hết sức cấp bách, không chỉ đe dọa đến tăng trƣởng kinh tế thế giới, mà còn đe dọa trực tiếp hoà bình, an ninh quốc tế. Nguồn năng lƣợng hoá thạch, món quà cực kỳ quý báu của thiên nhiên ban tặng con ngƣời đang cạn kiệt dần.1:Mức tiêu thụ năng lượng thế giới từ 1970 đến 2025 (đơn vị nghìn triệu triệu Btu)(4) Vậy, nguồn năng lƣợng nào sẽ thay cho năng lƣợng hoá thạch? Đó là vấn đề mà cả cộng đồng quốc tế phải quan tâm. Trên thực tế đã có nhiều phƣơng án đƣợc đƣa ra và cũng có nhiều dự án về năng lƣợng mới đƣợc thực hiện, góp phần đáng kể giải quyết sự thiếu hụt năng lƣợng hiện nay. Tuy nhiên, những phƣơng án, những dự án mới đƣợc thực hiện một cách hết sức nhỏ lẻ, dè dặt và cục bộ ở một số quốc gia.
Lý do là những phƣơng án này đều có những nhƣợc điểm nhất định, thậm chí là rất lớn, nếu triển khai đồng loạt sẽ đem lại hậu quả khó lƣờng, loài ngƣời sẽ phải trả cái giá cực đắt mà ngƣời ta chƣa thể tính đƣợc. Mặt khác, trong khi cộng đồng quốc HVTH: Nguyễn Bá Sang Trang 1 GVHD: TS. Lê Chí Kiên Luan van Luận Văn Thạc Sĩ Chƣơng1: Tổng Quan tế đang dồn mọi nỗ lực tìm phƣơng cách giải quyết cuộc khủng hoảng, thì chỉ vì lợi ích cục bộ, một số thế lực lại ƣu tiên dùng vũ lực chiếm giữ những vùng lãnh thổ giàu tiềm năng gây ra các cuộc xung đột, chiến tranh cục bộ. Các cuộc “chiến tranh dầu mỏ” sẽ tiếp tục xảy ra gay gắt, trầm trọng hơn đe doạ hoà bình, an ninh thế giới.
Vấn đề đặt ra ở đây là, giải quyết cuộc khủng hoảng năng lƣợng hiện nay nhƣ thế nào để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thế giới mà vẫn đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững. Đặc biệt là bảo vệ môi trƣờng, đảm bảo an ninh lƣơng thực cho hơn 8 tỉ ngƣời và giữ gìn hoà bình thế giới, vốn rất mong manh.2: Mức tiêu thụ các dạng năng lượng trên thế giới [4] Giải pháp nào để giải quyết cuộc khủng hoảng? Trƣớc tác động sâu sắc của cuộc khủng hoảng năng lƣợng toàn cầu, nhiều quốc gia và các tổ chức liên kết khu vực đã tích cực nghiên cứu, triển khai các giải pháp xử lý cuộc khủng hoảng. Các nhà phân tích cho rằng, các giải pháp gây áp lực buộc OPEC phải tăng sản lƣợng khai thác dầu để hạ giá dầu chỉ là biện pháp trƣớc mắt chứ không phải là giải pháp gốc. Vì vậy, tất cả các quốc gia đều đi tìm nguồn năng lƣợng mới, kêu gọi tiết kiệm trong sử dụng xăng dầu, khí đốt, than, điện và giải quyết xung đột ở các điểm nóng.
Tuy nhiên, mỗi giải pháp đều có những hạn chế của nó và cần có thời gian cũng nhƣ tiền bạc. Một là: giải pháp đa dạng hoá các nguồn cung cấp năng lượng. Thế giới đã và đang tập trung phát triển năng lƣợng hạt nhân, năng lƣợng tái sinh và năng lƣợng sinh học. Tuy nhiên, mỗi một dạng năng lƣợng này đều có những nhƣợc điểm, thậm HVTH: Nguyễn Bá Sang Trang 2 GVHD: TS.
Lê Chí Kiên Luan van Luận Văn Thạc Sĩ Chƣơng1: Tổng Quan chí là rất lớn. Về năng lƣợng hạt nhân, đến nay đã có 32 quốc gia và vùng lãnh thổ (dân số gần 4 tỉ ngƣời) có nhà máy điện hạt nhân với 441 tổ máy, công suất đạt 367.197 MW, cung cấp 16,4% sản lƣợng điện toàn cầu. Theo ƣớc tính của Cơ quan Năng lƣợng nguyên tử quốc tế (IAEA), tổng thời gian vận hành tích luỹ của các tổ máy điện hạt nhân trên thế giới đạt tới 12. Ở nhiều nƣớc, năng lƣợng điện nguyên tử giữ vai trò chủ chốt trong chiến lƣợc an ninh năng lƣợng.
Ở Pháp, điện nguyên tử cung cấp 80% tổng nhu cầu điện năng quốc gia; ở Hàn Quốc con số này là 46% (tính đến 2005); Nhật Bản và Mỹ: 25%, Nga: 16%… Tuy nhiên, năng lƣợng hạt nhân có nhƣợc điểm là thiếu sự an toàn (đã xảy ra sự cố xảy ra ở Mỹ, Nga, Nhật Bản), nguy cơ bị chủ nghĩa khủng bố quốc tế đánh cắp, bị lợi dụng sản xuất vũ khí hạt nhân, và không phải quốc gia nào cũng có đủ tài chính và công nghệ để xây dựng và vận hành nhà máy điện nguyên tử. Hai là: năng lượng tái sinh cũng đƣợc các quốc gia hƣớng tới. Hiện có ít nhất 45 quốc gia đang sử dụng loại năng lƣợng này, 60 nƣớc có chƣơng trình quốc gia phát triển năng lƣợng tái sinh, 19 nƣớc khuyến khích sử dụng năng lƣợng mặt trời để thắp sáng và sƣởi ấm. Theo ƣớc tính, đến năm 2010, các nƣớc muốn thoát khỏi tình trạng phụ thuộc vào nguyên liệu hoá thạch sẽ nhận đƣợc 30% sản lƣợng điện từ năng lƣợng tái sinh.
Ở một số nƣớc, tỷ lệ này sẽ cao hơn tỷ lệ trung bình của thế giới nhƣ Áo (từ 75-80%), Thụy Điển (dự kiến 60%), Lát-vi-a (49%)… Tuy nhiên, năng lƣợc tái sinh có khá nhiều nhƣợc điểm. Ví dụ, nguồn nƣớc trên thế giới ngày một khan hiếm nên không thể phát triển thuỷ điện, các công trình thuỷ điện lớn có thể gây ra những biến đổi về địa chất, gây ra những thảm họa thiên tai khó lƣờng (đập Tam Hiệp của Trung Quốc là một ví dụ điển hình); năng lƣợng gió và năng lƣợng mặt trời lại bị phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện thời tiết và chế độ gió, số giờ nắng vốn hết sức thất thƣờng, không phải ở đâu cũng sản xuất đƣợc điện từ gió và nắng. Ba là: phát triển năng lượng sinh học nhƣ sản xuất ê-ta-nôn, dầu diezen từ dầu cọ và lƣơng thực. Năng lƣợng sinh học đƣợc xem nhƣ một loại “năng lƣợng xanh” bởi nó ít thải ra khí các-bon-níc gây hiệu ứng nhà kính, hủy hoại môi trƣờng.
HVTH: Nguyễn Bá Sang Trang 3 GVHD: TS. Lê Chí Kiên Luan van Luận Văn Thạc Sĩ Chƣơng1: Tổng Quan Tuy nhiên, giải pháp này đang bị các nhà khoa học, bảo vệ môi trƣờng phản đối. Sản xuất diêzen sinh học sẽ cƣớp đi một diện tích đất canh tác (hiện nay là 14 triệu ha, chiếm 1%, và sẽ là 3,5% vào năm 2030 diện tích đất canh tác của thế giới, bằng cả diện tích Pháp và Tây Ban Nha cộng lại) sẽ làm giảm sản lƣợng lƣơng thực, trong khi thế giới đang đối mặt với khủng hoảng lƣơng thực. Không thể chấp nhận đƣợc tình trạng, trong khi hàng tỉ ngƣời trên hành tinh đang ở tình trạng thiếu đói thì hàng triệu tấn lƣơng thực lại đƣợc dùng để làm nhiên liệu.
Hơn thế nữa, việc phá rừng để trồng cây nguyên liệu (chủ yếu là cọ) sẽ gây ra những hậu quả khủng khiếp về môi trƣờng. Vấn đề phá rừng, trồng cọ ở đảo Bô-rơ-nê-ô (In-đô-nê-xi-a) là một ví dụ điển hình. Việc phá hàng ngàn héc-ta rừng trồng cọ ở đây đã làm thay đổi lƣu vực sông, phá hoại môi trƣờng sống của các loài động vật, tạo ra những đợt khói dày đặc kéo dài hàng tháng, lan toả hàng trăm km, bao phủ cả Đông Nam Á. Một nghiên cứu đƣợc đƣa ra trƣớc hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu đã xếp In- đô-nê-xi-a là nƣớc có lƣợng khí thải các-bon-níc nhiều thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Trung Quốc.
Chính vì vậy mà vào tháng 10 năm 2006, Ủy ban Nghị viện châu Âu kiến nghị Liên minh châu Âu (EU) cấm tất cả nhiên liệu sinh học làm từ dầu cọ. Các nhà hoạt động bảo vệ môi trƣờng quốc tế đã ngăn chặn đƣợc một dự án trồng cây cọ làm nguyên liệu sản xuất dầu diêzen sinh học lớn nhất thế giới tại In-đô-nê- xi-a trị giá 8 tỉ USD [4]. Ngoài ra, tiết kiệm năng lƣợng cũng là một giải pháp đƣợc các chuyên gia ƣu tiên, điển hình là ở Nhật Bản. Tuy tiết kiệm là một ƣu tiên hàng đầu, nhƣng nó không thể làm giảm đƣợc nhu cầu sử dụng năng lƣợng ngày một tăng của thế giới.
Ngƣời ta vẫn phải tìm ra loại năng lƣợng khác để thay thế dầu lửa, than đá, khí đốt mà không gây ra những hậu quả về môi trƣờng và an ninh. Câu trả lời vẫn còn ở phía trƣớc. Thế giới đang đối mặt với một loạt các vần đề năng lƣợng khó giải quyết, và ngày một trầm trọng hơn trong những năm gần đây. Đây là các vấn đề ngày một gay cấn trên mặt địa cầu cũng nhƣ trong lòng đất.
Bên dƣới bề mặt, trữ lƣợng dầu lửa, hơi đốt, và than đá dễ khai thác, một thời dồi dào, hiện đang ngày một cạn kiệt. HVTH: Nguyễn Bá Sang Trang 4 GVHD: TS. Lê Chí Kiên Luan van Luận Văn Thạc Sĩ Chƣơng1: Tổng Quan Trên mặt địa cầu, tính toán sai lầm của con ngƣời và địa chính trị đang giới hạn ngạch số sản xuất và khả dụng trong số cung năng lƣợng các loại. Với nhiều vấn đề ngày một nghiêm trọng trên và dƣới mặt đất, viễn tƣợng năng lƣợng chỉ có thể ngày một u ám hơn.
Một sự kiện đơn giản cần ghi nhớ vì sẽ giúp chúng ta hiểu đƣợc tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng năng lƣợng: kinh tế thế giới đƣợc cơ cấu trong phƣơng cách một sự dậm chân tại chỗ trong ngạch số năng lƣợng sản xuất không phải là một lựa chọn. Để thỏa mãn nhu cầu khổng lồ của các cƣờng quốc kỹ nghệ kỳ cựu nhƣ Hoa Kỳ cùng với nạn cực kỳ khát dầu của các cƣờng quốc đang lên nhƣ TQ, sản lƣợng dầu khí toàn cầu phải tăng trƣởng đáng kể mỗi năm. Theo dự tính của Bộ Năng Lƣợng Hoa Kỳ (DOE), sản lƣợng toàn cầu, căn cứ trên mức sản xuất năm 2007, phải tăng trƣởng 29% lên 640 triệu tỉ BTU (640 quadrillion British thermal units) vào năm 2025, mới đủ để thỏa mãn nhu cầu ƣớc tính. Trên đây chính là những điều kiện chi phối kinh tế thế giới hiện nay và mãi mãi trong tƣơng lai [4].
Kể từ năm 2011 nhân loại đang đứng trƣớc ba vấn đề lớn về năng lƣợng: - Dầu khó khai thác. - Năng lƣợng hạt nhân đang trên đà tuột dốc. - Hạn hán kéo dài. Vậy đâu là cứu cánh năng lƣợng cho con ngƣời trong tƣơng lai? Năng lƣợng tái tạo có thể giải quyết vấn đề này.
Trong các dạng năng lƣợng tái tạo đƣợc nghiên cứu thì địa nhiệt có nhiều tiềm năng phát triển trong tƣơng lai. Khai thác năng lƣợng địa nhiệt có hiệu quả về kinh tế, có khả năng thực hiện và thân thiện với môi trƣờng, nhƣng trƣớc đây bị giới hạn về mặt địa lý đối với các khu vực gần các ranh giới kiến tạo mảng. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật gần đây đã từng bƣớc mở rộng phạm vi và quy mô của các tài nguyên tiềm năng này.