ĐẶT VẤN ĐỀ Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cần thiết, cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho con người. Vì thế, sự ổn định xã hội, mức an ninh về lương thực và thực phẩm phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của nông nghiệp. Trong những năm qua, cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, sự phát triển các khu đô thị và cụm công nghiệp, Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề bùng nổ dân số (năm 2015 đạt 91,71 triệu người, tăng thêm 3,85 triệu người sau 4 năm). Mặt khác, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2015, tổng diện tích đất lúa cả nước là 7.834,9 nghìn ha, giảm 505,7 nghìn ha so với năm 2005 (7. Đây là những thách thức mới cho sản xuất nông nghiệp, đặt biệt là lĩnh vực trồng trọt. Yên Phong là một huyện hầu như thuần nông của tỉnh Bắc Ninh, là địa phương có mật độ dân số đông với các khu, cụm công nghiệp phát triển. Vì vậy, nhu cầu về lương thực, thực phẩm là rất lớn.
Các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng của Đảng và chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành nghề phát triển. Đặc biệt là sản xuất theo hướng chuyên sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng và thị trường. Song, nhìn chung sản xuất nông nghiệp ở đây vẫn còn không ít những tồn tại. Một là: Sản xuất manh mún, nhỏ lẻ không đồng bộ, cơ cấu cây trồng chưa hợp lý; Hai là: Trình độ canh tác của nông dân còn hạn chế, chủ yếu sản xuất theo phương thức truyền thống; Ba là: Sử dụng phân bón chưa hợp lý: còn nặng về sử dụng phân bón hóa học và sử dụng phân đạm (ure) là chính với số lượng lớn mà không cân đối với lân, kali, hạn chế sử dụng phân chuồng.
Ít hộ sử dụng phân hữu cơ (phân chuồng và phân hữu cơ vi sinh). Thực trạng canh tác này đã làm cho việc thâm canh cây lúa, cũng như cây rau màu dần trở nên kém hiệu quả, đất bị thoái hoá nhanh chóng, môi trường bị ô nhiễm và còn ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Thực hiện Quyết định số 899/QĐ - TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”, theo Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh 1 Đình Dũng, để đạt được hiệu quả cao, tái cơ cấu ngành nông nghiệp cần gắn với nhu cầu thị trường, xác định các sản phẩm chủ lực, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm có khối lượng lớn, chất lượng cao, giá trị cao; đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp phù hợp với điều kiện từng vùng, từng địa phương. Bên cạnh đó, tái cơ cấu nông nghiệp cần ứng phó với biến đổi khí hậu; gắn với phát triển kinh tế ngành nghề ở nông thôn nhằm mục đích nâng cao giá trị sản phẩm và đời sống cho người dân; và tái cơ cấu phải gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường.
Một trong những mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015 – 2020: “Chú trọng phát triển nông nghiệp chất lượng cao, đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển đô thị; giải quyết tốt vấn đề môi trường”. Vì vậy, để đạt được mục tiêu đề ra cần tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất, chủ động tìm kiếm thị trường, đầu ra cho sản xuất,… Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật góp phần hoàn thiện hệ thống cây trồng tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh”. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng, xác định được các lợi thế và tồn tại của hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện Yên Phong. Từ đó, đề xuất một số biện phát kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của hệ thống cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai và điều kiện canh tác cũng như phát triển nghề truyền thống của nông dân huyện Yên Phong.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến hệ thống cây trồng tại huyện Yên Phong. - Phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, hiệu quả kinh tế các hệ thống cây trồng của huyện Yên Phong. - Tiến hành thí nghiệm một số biện pháp kỹ thuật góp phần hoàn thiện hệ thống cây trồng. - Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả kinh tế của hệ thống cây trồng.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống cây trồng tại địa bàn huyện; chú trọng đến phát triển HTCTr có lúa (lúa nếp), có giá trị kinh tế cao nằm trong chuỗi giá trị sản xuất. ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Những đóng góp mới - Kết quả nghiên cứu đã chọn ra được mức phân hữu cơ sinh học cải tạo đất Bình Điền phù hợp với hai giống lúa (BM9603 và Nếp cái hoa vàng) cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện. - Chỉ ra được những công thức phù hợp có hiệu quả kinh tế cao cần phát huy trên đất vàn.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung cơ sở khoa học, hoàn thiện về nghiên cứu hệ thống cây trồng thích hợp với điều kiện sinh thái tại huyện Yên Phong. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài thành công góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ nông dân. Làm cơ sở áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào trong sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Phong. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Các lý thuyết về hệ thống 2. Khái niệm về hệ thống Theo Von Bertalanffy (1933): Hệ thống là tập hợp các yếu tố (phần tử) có liên quan với nhau thông qua các mối quan hệ và tạo thành một tổ chức nhất định để thực hiện một số chức năng nào đó (Phạm Tiến Dũng và Vũ Đình Tôn, 2013). Theo Nguyễn Tất Cảnh và cs. (2008): Hệ thống là một tập hợp các đối tượng, các thành phần có quan hệ với nhau, tương tác với nhau theo những nguyên tắc, những cơ chế nào đó nhưng tồn tại trong một thể thống nhất.
Nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác được xuất phát từ lý thuyết hệ thống, đã được các nhà khoa học Speeding, 1979, Phạm Chí Thành và cs. Tổng hợp các khái niệm về hệ thống, Phạm Tiến Dũng và Vũ Đình Tôn (2013) cho rằng: Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và vận động, nhờ đó xuất hiện thuộc tính mới, thuộc tính mới được gọi là tính trồi của hệ thống. Hệ thống nông nghiệp (HTNN) HTNN là hệ thống thứ bậc được lồng vào nhau của các hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồm các yếu tố sinh thái, kinh tế và con người từ phạm vi cánh đồng đến nông trại, vùng, quốc gia và thế giới (Conway, 1987; Izak and Swift, 1994; Gallopin, 1994). Điều quan trọng là thấy rõ các mối quan hệ ràng buộc giữa các mức phạm vi không gian khác nhau của hệ thống nông nghiệp.
Nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp là sự kết hợp nghiên cứu phát triển kỹ thuật nông nghiệp vi mô ở mức độ nông trại với nghiên cứu chính sách phát triển nông nghiệp vĩ mô ở mức độ vùng, quốc gia và thế giới. Sự phát triển nông trại sẽ là cơ sở, nền tảng cho sự phát triển nông nghiệp vùng và quốc gia. Song sự phát triển đó lại phụ thuộc và bị chi phối bởi các yếu tố ở các hệ thống cao hơn như: vùng, quốc gia và thế giới. Nhất là trong sản xuất nông nghiệp mang tính hàng hoá cao như hiện nay (Nguyễn Tất Cảnh và cs.
Theo Vissac (1979): HTNN là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn nhu cầu. Nó biểu hiện sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học - sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện và một bên là hệ thống xã hội - văn hoá thông 4 qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật. Như vậy, hệ thống nông nghiệp chính là sự thống nhất và tác động qua lại giữa 3 hệ thống: Sinh học, xã hội và kinh tế. Hệ thống canh tác (HTCT) Hệ thống canh tác là một hệ thống độc lập/ổn định của những bố trí sản xuất giữa các hoạt động sản xuất của nông hộ do người nông dân quản lý, trong mối tương tác với các điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội phù hợp với mục đích, nhu cầu và tiềm năng của nông dân (Nguyễn Tất Cảnh và cs.
Phạm Tiến Dũng và Vũ Đình Tôn (2013), rút ra khái niệm chung nhất về HTCT là: HTCT là một hệ thống bao gồm nhiều hệ thống phụ là trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, tiếp thị, quản lý kinh tế, được bố trí một cách hệ thống và ổn định, phù hợp với mục tiêu trong từng nông trại hay từng tiểu vùng nông nghiệp. Hệ thống trồng trọt (HTTT) Theo Phạm Tiến Dũng và Vũ Đình Tôn (2013): Hệ thống trồng trọt là hệ thống trung tâm của hệ thống canh tác, cấu trúc của nó quyết định sự hoạt động của các hệ thống con khác nhau như: chăn nuôi, chế biến, ngành nghề, … Theo Nguyễn Tất Cảnh và cs. (2008): Các hệ thống trồng trọt khác nhau có thể được phân loại theo hàng loạt các đặc điểm riêng biệt. Trong thời gian gần đây, người ta phân loại như sau: (a) phân loại theo kiểu luân canh; (b) phân loại theo mức độ luân canh; (c) phân loại theo việc cung cấp nước; (d) phân loại theo công thức luân canh và hoạt động chăn nuôi; (e) phân loại theo nông cụ; (g) phân loại theo mức độ thương mại hoá.
Hệ thống cây trồng (HTCTr) Theo Phạm Văn Hiền và Trần Danh Thìn (2009), nói đến HTCTr đa canh là nói đến: trồng xen, trồng gối, luân canh, trồng thành băng, canh tác phối hợp, vườn hỗn hợp, v.v… Trong đó, hệ thống luân canh cây trồng có vai trò rất lớn, nó góp phần tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích cũng như khai thác tối đa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.