CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ 1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ Như chúng ta đã biết, giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, trao đổi giữa các thành viên trong một cộng đồng bằng nhiều phương tiện, cách thức khác nhau, trong đó giao tiếp bằng ngôn ngữ là quan trọng nhất. “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (Lê Nin).
Ngôn ngữ là phương tiện để biểu đạt ý nghĩ của mỗi người. Khi bạn muốn nói chuyện hoặc trao đổi thông tin với ai đó, bạn phải thực hiện rất nhiều hành động khác nhau bằng cách sử dụng ngôn ngữ để truyền tải những thông điệp mà bạn muốn bày tỏ. Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đa dạng nhưng đều được gọi chung là các hành vi ngôn ngữ (HVNN). Đây cũng là vấn đề trung tâm của lý thuyết Ngữ dụng học.
Theo Đỗ Hữu Châu: “Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C” [3, tr. Trong thực tế giao tiếp, bên cạnh những câu về hình thức và ngữ nghĩa đều đánh giá được theo tiêu chuẩn đúng - sai, có những phát ngôn mà xét về hình thức cũng rất giống những câu kia nhưng lại không thể đánh giá được theo tiêu chuẩn đó, ví dụ: (1) Tôi nói chân thành, anh nên bỏ thuốc lá đi. [20] (2) Tôi cuộc với anh là đội Đan Mạch sẽ thắng đội Đức đấy. [20] Austin cho rằng những phát ngôn này không phải là những phát ngôn giả - khẳng định, cũng không vô nghĩa, chúng được phát ra nhằm những mục đích nhất định.
Mục đích đó có thể là đánh cuộc, bộc lộ cảm xúc… của người nói và ông gọi những phát ngôn này là phát ngôn ngữ vi - phát ngôn mà khi ta nói ra thì đồng thời ta đã thực hiện ngay cái việc được hiển thị trong phát ngôn. Theo ông đây chính là HVNN, ông cũng cho rằng người ta thực hiện 11 đến 3 loại HVNN khi nói ra một phát ngôn, đó là: Hành vi tạo lời, hành vi ở lời và hành vi mượn lời. - Hành vi tạo lời là hành vi người nói sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như từ ngữ, cấu trúc và phát âm theo một cách thức nhất định để tạo ra một phát ngôn hoàn chỉnh về hình thức và chuyển tải một nội dung nhất định. - Hành vi mượn lời là hành vi thông qua PTNN để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ, tác động xa hơn đến tâm lí, hành vi, thái độ, tình cảm của người nghe, người nhận hoặc chính người nói.
- Hành vi ở lời là những hành động được thực hiện ngay trong lời nói và bằng việc sử dụng ngôn ngữ, phát ngôn để tạo ra hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gay ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Đó là những hành vi như: Hỏi, mời, chào, chúc, khuyên, than, trách, ra lệnh, đề nghị., ví dụ: (3) Trời ơi! Sao thân tôi lại khổ thế này! [20] (4) Làm gì mà gắt gỏng thế ông Lý! [ 2, tr.11] (5) Anh đừng nghĩ về việc đó nữa. [20] - Ví dụ (3) là một lời than, nó thể hiện hành vi ở lời là than. - Ví dụ (4) là một lời trách, nó thể hiện hành vi ở lời là trách.
- Ví dụ (5) là một lời khuyên, nó thể hiện hành vi ở lời là khuyên.Ducrot nói rõ thêm về các hành vi ở lời. Theo ông, “hành vi ở lời khác với hành vi tạo lời và hành vi mượn lời ở chỗ chúng thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại. Chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành vi ở lời đó”. (dẫn theo [3, tr.90]) Có thể nói rằng những tư tưởng trên đã tạo nền móng vững chắc cho lý thuyết HVNN.
Ngữ dụng học quan tâm trước hết các hành vi ở lời. Hầu như các HVNN được bàn đến trong các công trình nghiên cứu trước đây và HVT được nghiên cứu trong luận văn này là loại HVNN ở lời. Trong phạm vi luận 12 văn này chúng tôi tập trung nghiên cứu về một loại HVNN ở lời, cụ thể là hành vi trách trong tiếng Việt. Phân loại hành vi ở lời Cách phân loại hành vi ở lời khá đa dạng.
Trong luận văn này, chúng tôi quan tâm đến hai cách phân loại phổ biến nhất theo quan điểm của Austin (1962) và Searle (1975). Sự phân loại theo quan điểm của Austin Theo Austin, các hành vi ngôn ngữ được chia thành 5 loại lớn. Phán xử (verditives, verditifs): đây là những hành vi đưa ra những lời phán xét hay đánh giá về một sự kiện hoặc giá trị dựa trên những chứng cứ hoặc lí lẽ vững chắc như: xử trắng án, xem là, tính toán, miêu tả, phân loại, phân tích, cho là, nêu đặc điểm… 2. Hành xử (exercitives, exercitifs): đây là những hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hay bất lợi chống lại chuỗi hành động nào đó như: ra lệnh, chỉ huy, khẩn cầu, giới thiệu, bổ nhiệm, bế mạc, cảnh cáo… 3.
Cam kết (commisives, commissifs): đây là những hành vi ràng buộc người nói vào những hành động nhất định như: hứa hẹn, giao ước, bảo đảm, bày tỏ, thề nguyền, thông qua các quy ước… 4. Trình bày (expositives, expositifs): đây là những hành vi dùng để trình bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như: khẳng định, phủ định, chối, trả lời, phản bác, dẫn thí dụ… 5. Ứng xử (behabitive): đây là những hành vi phản ứng với cách ứng xử của người khác đối với những sự kiện liên quan như: xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chào mừng, chia buồn, phê phán, ban phước, nguyền rủa, nâng cốc, chống lại, thách thức. Sự phân loại của Searle Searle cho rằng trước hết phải phân loại các hành vi ở lời chứ không phải phân loại các động từ gọi tên chúng.
Ban đầu Searle liệt kê ra 12 điểm khác biệt giữa các HVNN có thể dùng làm tiêu chí phân loại các HVNN. 13 Trong 12 tiêu chí đó, Searle vận dụng 4 tiêu chí mà ông cho là quan trọng nhất là: đích tại lời, hướng khớp ghép lời - hiện thực, trạng thái tâm lý được biểu hiện, nội dung mệnh đề để chia HVNN thành 5 loại lớn: 1. Đây là hành vi mà đích ở lời miêu tả lại một sự tình đang được nói đến. Lớp này gồm các hành vi như: kể, tự sự, miêu tả, mách, khoe… 2.
Điều khiển (directive, directifs): Đây là hành vi mà đích ở lời là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động tương lai. Các hành vi thuộc lớp này là: ra lệnh, yêu cầu, cho phép, hỏi… 3. Cam kết (commissives, commissifs): Đây là hành vi mà đích ở lời là trách nhiệm phải thực hiện hành động tương lai mà Sp1 bị ràng buộc. Các hành vi thuộc lớp này là: hứa hẹn, tặng, biếu… 4.
Biểu lộ (expressives, expressifs): Đây là hành vi mà đích ở lời là bày tỏ trạng thái tâm lí phù hợp với hành vi ở lời. Các hành vi thuộc lớp này là: cảm thán, than thở, cảm ơn, xin lỗi, khen, chê… 5. Đây là hành vi mà đích ở lời là nhằm làm cho nội dung của hành vi hướng khớp ghép vừa là lời – hiện thực, vừa là hiện thực - lời. Các hành vi thuộc lớp này là: tuyên bố, tuyên án, buộc tội, kết tội… Dựa theo sự phân loại của hai tác giả trên, chúng tôi nhận thấy hành vi trách trong tiếng Việt có thể xếp vào nhóm ứng xử hay biểu lộ và 4 tiêu chí cụ thể của nhóm này là: - Đích ở lời: người phát thông qua phát ngôn của mình bày tỏ trạng thái tâm lý; - Hướng khớp ghép lời: đối với các hành vi thuộc nhóm biểu lộ thì không có hướng khớp ghép; - Trạng thái tâm lý: thay đổi theo từng loại hành vi như vui thích, mong muốn, bực bội…; 14 - Nội dung mệnh đề: là hành động hoặc tính chất nào đó có tư cách là nguồn gây ra cảm xúc của người phát ngôn.
Điều kiện thực hiện các hành vi ở lời Hành vi ở lời, cũng giống như các hành vi khác của con người, chỉ được thực hiện thành công với những điều kiện nhất định. Mỗi hành vi ở lời như chào, kể, bác bỏ, từ chối, sai khiến, cầu xin, hứa, dặn dò, chê, trách… đều có những điều kiện riêng. Austin cho rằng điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện “may mắn”. Trên cơ sở những điều kiện may mắn của Austin, Saerle đã điều chỉnh, bổ sung thành các điều kiện sử dụng hành vi ở lời, như sau: 1.
Điều kiện nội dung mệnh đề Điều kiện này chỉ ra bản chất nội dung của hành vi. Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (khảo nghiêm, xác tín, miêu tả) hay một hàm mệnh đề (đối với các câu hỏi khép kín có /không). Nội dung mệnh đề có thể là một hành động của người nói hay một hành động của người nghe. Điều kiện chuẩn bị Điều kiện này bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe về các mối quan hệ giữa người nói, người nghe.
Điều kiện chân thành Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lí tương ứng của người phát ngôn. Điều kiện căn bản Đây là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó được phát ra. Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra).117] 15 Theo Searle, mỗi hành vi ở lời đòi hỏi phải thỏa mãn những điều kiện (còn gọi là những quy tắc) trên, để cho việc thực hiện hành vi đạt hiệu quả đúng với đích của nó. Mỗi điều kiện là một điều kiện cần, còn lại toàn bộ hệ điều kiện là điều kiện đủ.
Trong 4 điều kiện trên, mỗi điều kiện lại được biểu hiện khác nhau tùy theo từng phạm trù, từng loại và từng hành vi ở lời cụ thể. Hành vi ở lời trực tiếp và gián tiếp Những hành vi được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với những điều kiện sử dụng của chúng được gọi là những HVNN (hành vi ở lời) trực tiếp hay chân thực. Nhưng trong thực tế giao tiếp, không phải bao giờ các HVNN cũng được dùng đúng với đích ở lời và đúng với các điều kiện sử dụng của chúng.