CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mang túi của người tiêu dùng 1. Các chính sách pháp luật Các chính sách pháp luật được cho là ảnh hưởng rất lớn tới thói quen sử dụng túi ni lông của nước đó.
Một số công cụ chính sách thuế và những chế tài nghiêm ngặt được xem là công cụ hữu ích nhằm tác động nên hành vi của người tiêu dùng (Rhian Tough, 2007). Andrew Macintosh và cộng sự (2011) đã nghiên cứu về tác động của đạo luật cấm mua sắm túi nhựa được áp dụng tại Lãnh thổ Australia. Mục đích của đạo luật này là giảm việc sử dụng túi ni lông và tác động của chúng đến môi trường. Để thực hiện điều này, Đạo luật cấm các nhà bán lẻ cung cấp túi mua sắm bằng nhựa, được quy định là túi được làm từ polyetylen có độ dày <35 μm hoặc bất kỳ loại túi nào khác bị cấm trong lệnh cấm.
Ngoại trừ túi phân hủy sinh học, bao bì tích hợp và túi chống ẩm. Cung cấp túi mua sắm bằng nhựa trái với đạo luật là một hành vi vi phạm, có thể bị phạt tới 37. Nghiên cứu đánh giá liệu lệnh cấm có giảm tiêu thụ túi ni lông và xả rác, và vấn đề liệu sự ủng hộ của cộng đồng đối với lệnh cấm có bền vững hay không. Các kết quả cho thấy lệnh cấm đã không quá hiệu quả trong việc giảm tiêu thụ túi ni lông hoặc xả rác.
Qua giai đoạn nghiên cứu kéo dài gần bảy năm, từ năm 2011 đến năm 2018, lệnh cấm đã làm giảm lượng tiêu thụ túi polyethylene thông thường dùng một lần là 2600 tấn. Tuy nhiên, những khoản cắt giảm này phần lớn được bù đắp bởi sự gia tăng của việc tiêu thụ các loại túi khác. Ảnh hưởng của lệnh cấm tiêu thụ nhựa trong giai đoạn này là tương đối nhỏ, giảm 275 tấn. Mặc dù vậy, lệnh cấm vẫn được ủng hộ rộng rãi.
Khi nó được giới thiệu lần đầu tiên, 58% cộng đồng đã ủng hộ lệnh cấm. Đến năm 2018, con số này đã tăng lên 68%. Theo Frank Convery và cộng sự (2007), Ireland - quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng thuế túi nhựa từ năm 2002, kết quả, đã giảm 90% lượng sử dụng túi nhựa với con số giảm 1 tỷ túi và rác ni lông đã giảm đi rất nhiều. Cụ thể, Ireland áp dụng mức thuế 15 Euro đối với túi mua sắm bằng nhựa, trước đây họ cung cấp miễn phí túi cho khách hàng tại các điểm bán hàng.
Ảnh hưởng của thuế đối với việc sử dụng túi nhựa 10 trong các cửa hàng bán lẻ đã rất đáng kể - giảm sử dụng trong đơn đặt hàng là 90% và một lợi ích liên quan dưới hình thức giảm thiểu tình trạng xả rác. Chandrashekar (2018) chỉ ra rằng tại thành phố lớn nhất của Ấn Độ, lệnh cấm túi ni lông và các sản phẩm làm bằng nhựa gặp trở ngại lớn. Đối mặt với thảm họa túi nhựa, thành phố Mumbai, Ấn Độ bắt buộc một lệnh cấm sâu rộng đối với túi nhựa và các loại nhựa vứt bỏ khác. Nhưng sự hỗn loạn sau đó cho thấy những thách thức trong việc hạn chế sử dụng các sản phẩm làm từ nhựa đã ăn sâu vào nền kinh tế hiện đại.
Nhân tố thuộc về nhận thức của người tiêu dùng 1. Nhận thức về môi trường Người tiêu dùng có nhận thức về môi trường sẽ hiểu được hậu quả của việc họ chống lại các vấn đề ô nhiễm môi trường và có trách nhiệm với tương lai của nhân loại trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên (Boztepe, 2012). Tức là nếu con người hiểu biết và nhận thức rõ các vấn đề môi trường trong tương lai gây ra bởi các hành vi tiêu dùng của bản thân thì sẽ dẫn đến sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng của mình (Kollmuss và cộng sự, 2002). Chan và cộng sự (2008) đã thực hiện một nghiên cứu để phân tích ý định mang theo túi mua sắm riêng của người tiêu dùng Trung Quốc.
Mô hình được xác thực theo kinh nghiệm bằng cách sử dụng khảo sát 250 người tiêu dùng Trung Quốc. Các phát hiện cho thấy rằng những người tiêu dùng nhận thấy việc thực hành mang túi cá nhân khi đi mua sắm (BYOB: Bring your own bags) là quan trọng hơn có xu hướng dựa vào phán đoán đạo đức của họ để đưa ra ý định BYOB của họ. Trên thực tế, các phát hiện cũng cho thấy rằng một cách tiếp cận thực dụng (tức là nhấn mạnh những hiệu quả của BYOB) có thể là một phương tiện hữu hiệu để chính phủ Trung Quốc thúc đẩy thực hành BYOB trong người tiêu dùng. Erkan và Yilmaz (2017) đã nghiên cứu thái độ của người tiêu dùng đối với việc sử dụng túi vải và nhựa ở Eskişehir, Thổ Nhĩ Kỳ.
Các tác giả đã lập một mô hình phương trình cấu trúc với ý thức về môi trường liên quan đến việc sử dụng túi ni lông, áp lực xã hội, ủng hộ việc cấm sử dụng túi ni lông, ý định sử dụng túi vải, hành vi giảm sử dụng túi ni lông được coi là những biến tiềm ẩn trong mô hình và ý định sử dụng túi vải và hành vi giảm sử dụng túi ni lông được xác định là các biến tiềm ẩn nội sinh trong mô hình cấu trúc. Kết luận của nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người tiêu dùng có ý thức về môi trường và cảm thấy chịu áp lực xã hội, có xu hướng giảm sử dụng túi ni lông và chuyển sang sử dụng túi vải. 11 Synthia và Kabir (2015), đã có một cuộc điều tra về thái độ của người tiêu dùng đối với các loại túi mua sắm qua đó khám phá nhận thức về môi trường và khả năng thay đổi hành vi. Thái độ đối với các loại túi mua sắm mới được xác định thông qua các phương pháp định tính như phỏng vấn sâu và nghiên cứu thực địa.
Cuối cùng, một cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi đã được thực hiện trên 288 chủ hộ là nữ ở Bangladesh. Kết quả chỉ ra rằng 98% người được hỏi nhầm tưởng rằng những chiếc túi mới này thân thiện với môi trường hoặc có thể phân hủy sinh học. Từ đó có thể thấy rằng người tiêu dùng có ý thức bảo vệ môi trường có thể sẽ mang theo túi ở nhà đi mua sắm để giảm thiểu lượng túi ni lông. Lam và Chen (2006) đã thực hiện một nghiên cứu nhằm mục đích sử dụng một tập hợp các biến tâm lý và tình huống để dự đoán hành vi sử dụng túi của người tiêu dùng, bao gồm việc mang túi của chính mình và mua túi từ đại siêu thị qua khảo sát người tiêu dùng tại Đại siêu thị ở Đài Loan.
Các nhân tố dự đoán là thái độ đối với hành vi, mối quan tâm đến môi trường và chuẩn mực cá nhân, có thể tự mang túi, không yêu cầu túi và các biến tình huống. Kết quả cho thấy việc nhận thức về các nhân tố trên có ảnh hưởng tích cực đến hành vi sử dụng túi của người tiêu dùng. Khi người tiêu dùng quan tâm đến các vấn đề về môi trường, họ thường có xu hướng đánh giá về sự ảnh hưởng đến môi trường trong các quyết định tiêu dùng của họ (Follows và Jobber, 2000). Nghiên cứu này cung cấp một phương pháp luận để điều tra việc mua sản phẩm có trách nhiệm với môi trường và cung cấp một lý thuyết để hiểu các nhân tố quyết định của loại hành vi mua hàng này.
Một quy trình nghiêm ngặt đã được tuân thủ để tạo ra các biện pháp đối phó với các hậu quả môi trường và cá nhân cụ thể của sản phẩm. Một sản phẩm gây hậu quả tiêu cực đến môi trường có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng khi người tiêu dùng xem xét tác động của sản phẩm đó đối với môi trường. Theo nghiên cứu của Laroche và cộng sự (2001), mối quan tâm liên quan đến môi trường là điều hiển nhiên trong thị trường ngày càng có ý thức về mặt sinh thái. Nghiên cứu sử dụng các phân tích thống kê khác nhau, điều tra hồ sơ nhân khẩu học, tâm lý và hành vi của những người tiêu dùng sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho các sản phẩm thân thiện với môi trường.
Nhận thấy rằng phân khúc người tiêu dùng này có nhiều khả năng là phụ nữ, đã kết hôn và có ít nhất một con sống ở nhà. Họ báo cáo rằng các vấn đề sinh thái ngày nay rất nghiêm trọng, các tập đoàn không hành động có trách nhiệm đối với môi trường và việc cư xử theo cách thuận lợi về mặt sinh thái là quan trọng và không gây bất tiện. Họ rất coi trọng vấn đề an ninh và mối quan hệ nồng ấm với những người khác, và họ thường xem xét các vấn đề sinh thái khi mua 12 hàng. Các tác động quản lý đối với các nhà tiếp thị xanh và các đề xuất cho nghiên cứu trong tương lai được thảo luận.
Tóm lại, nghiên cứu chỉ ra rằng nếu người tiêu dùng càng có mối quan tâm sâu sắc đến môi trường thì họ càng có nhiều hành vi tiêu dùng xanh như sử dụng các sản phẩm có thể tái chế hoặc sử dụng các loại túi tái sử dụng nhiều lần. Theo nghiên cứu của Simmons và Widmar (1990), mối quan tâm về môi trường biểu thị định hướng chung của một các nhân đối với môi trường và mức độ quan tâm của một cá nhân đối với các vấn đề về môi trường được coi là một dự báo hữu ích về hành vi có ý thức về môi trường từ hành vi tái sử dụng đến hành vi mua sắm xanh chỉ ra rằng hành vi tái chế phụ thuộc vào cả động cơ tái chế và khả năng vượt qua các rào cản đối với việc tái chế. Do đó, các chương trình tái chế cần được thiết kế với những nhân tố đó. Cần nhận ra sự phức tạp của các tương tác giữa các nhân tố khác nhau; dường như không có một biến nào hoạt động một mình.
Thái độ tích cực trong sự cô lập sẽ không đảm bảo hành động. Một mạng lưới các nhân tố, bao gồm thái độ, động cơ nội tại, cảm nhận về hiệu quả và kiến thức được nhận thức đều phải được nuôi dưỡng nếu các hành vi nhất quán là kết quả cuối cùng.