MỞ ĐẦU Hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) đã là cụm từ không hề xa lạ trong giới khoa học và xã hội hiện tại đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp. Từ thời Hy Lạp, con người đã biết sử dụng chất vô cơ để diệt các loài côn trùng gây hại và đến những năm cuối thế kỉ 19 HCBVTV bắt đầu phát triển, nhằm phục vụ cho việc nâng cao năng suất và bảo quản nông sản. Tuy nhiên, thời gian qua đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy bên cạnh việc bảo vệ cây trồng, HCBVTV còn gây ra nhiều hệ lụy kèm theo như làm ô nhiễm môi trường và gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Việt Nam là một quốc gia được biết đến với đường bờ biển dài 3420 km và có rất nhiều tỉnh thành giáp với biển.
Vì vậy cá là thực phẩm quen thuộc trong đời sống của người dân và cung cấp rất nhiều dinh dưỡng có lợi cho con người. Bên cạnh đó, do nông nghiệp là ngành nghề chính của Việt Nam, nên việc lạm dụng HCBVTV ngày càng gia tăng dẫn đến nguy cơ phát thải ra môi trường. Qua sự tích lũy sinh học trong đất, nước thì dư lượng HCBVTV được tìm thấy trong cá ngày càng tăng cao. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật tích lũy trong cá ở Việt Nam là vô cùng cấp thiết.
Do hàm lượng HCBVTV trong cá tồn tại ở hàm lượng vết đòi hỏi cần phải sử dụng những phương pháp phân tích cho phép xác định đồng thời nhiều chất, giới hạn phát hiện thấp, có độ nhạy và độ chính xác rất cao. Phương pháp sắc ký khí là phương pháp phù hợp với yêu cầu này, đặc biệt khi kết hợp với đầu dò khối phổ có thể cung cấp thêm thông tin quan trọng khác như việc định danh các chất một cách chính xác thông qua việc chọn mảnh ion phù hợp có thể giúp xác nhận lại hợp chất cần xác định đồng thời cho phép định lượng được chúng. Với các lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài cho khóa luận tốt nghiệp này là “Nghiên cứu xác định hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật cơ clo trong cá bằng phương pháp sắc ký khí ghép nối hai lần khối phổ GC-MS/MS”.ms Luan van (Luan.ms 2 CHƢƠNG 1. ĐỊNH NGHĨA HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT 1.
Hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) là những hợp chất được sử dụng để tiêu diệt, xua đuổi hoặc kiểm soát một số thực vật, động vật bị coi là gây hại cho cây trồng. HCBVTV rất đa dạng về chủng loại bao gồm hóa chất diệt cỏ để tiêu diệt cỏ dại và các loại thực vật không mong muốn khác. Hóa chất diệt côn trùng để kiểm soát nhiều loại côn trùng. Hóa chất diệt nấm được sử dụng để ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc, chất khử trùng để ngăn chặn sự lây lan của vi khuẩn và một số hợp chất được sử dụng để kiểm soát chuột.
Có rất nhiều loại HCBVTV nhưng chúng thường được phân loại theo từng loại dưới đây: Nhóm Cơ Photpho[2] Những hợp chất này ảnh hưởng đến hệ thần kinh bằng cách phá vỡ enzym điều chỉnh acetylcholine, một chất dẫn truyền thần kinh. Hầu hết các organophosphat là chất diệt côn trùng. Một số rất độc (chúng được sử dụng trong Thế chiến II như chất độc thần kinh). Tuy nhiên, chúng thường không bền trong môi trường.
Ví dụ bao gồm malathion, chlorpyrifos và phosmet. Nhóm Carbamate[2] Những hợp chất nhóm này ảnh hưởng đến hệ thần kinh bằng cách phá vỡ enzyme điều chỉnh acetylcholine, một chất dẫn truyền thần kinh. Các tác động của enzym thường có thể đảo ngược. Ví dụ bao gồm carbonfuran và oxamyl.
Tuy nhiên, nhiều nước nhiệt đới vẫn sử dụng DDT để kiểm soát bệnh sốt rét. Một số ví dụ về hợp chất hóa chất bảo vệ thực vật cơ clo khác là aldrin và dieldrin. Nhóm Pyrethroid[2] Hợp chất nhóm Pyrethroid được hình thành giống như các hợp chất được tổng hợp của nhóm chất tự nhiên pyrethrin, được tìm thấy trong hoa cúc. Ví dụ như cypermethrin và deltamethrin.ms Luan van (Luan.ms 3 Nhóm Triazines[2] Các hợp chất diệt cỏ triazin hoạt động bằng cách ức chế sự vận chuyển điện tử của quá trình quang hợp.
Một số cây trồng có khả năng chống lại triazin, ví dụ như rễ ngô có chứa một loại enzym khiến chúng không hoạt động. Điều này làm cho chúng trở nên hữu ích như những loại cỏ có chọn lọc. Tuy nhiên, nhiều loại cỏ dại hiện đã phát triển tính kháng triazin. Ví dụ bao gồm atrazine, propazine, simazine, prometone và prometryne.
Nhóm Triazoles[2] Triazoles ức chế sinh tổng hợp sterol, một thành phần quan trọng đối với tính toàn vẹn của màng tế bào nấm, dẫn đến nấm phát triển bất thường và cuối cùng là chết. Vì địa điểm hoạt động của họ rất cụ thể, nên có những lo ngại về sự kháng cự. Những người áp dụng triazol được khuyên nên luân phiên các họ hóa chất diệt nấm trong các chương trình quản lý bệnh của họ, chứ không chỉ đơn giản là luân phiên sang một thành viên khác của họ triazole. Ví dụ bao gồm epoxiconazole, cyproconazole và flusilazole.
Nhóm Neonicotinoids[2] Neonicotinoids là một loại nhóm hoạt động thần kinh tương tự như nicotine về mặt hóa học. Vào ngày 24 tháng 5 năm 2013, Ủy ban Châu Âu đã áp đặt một số hạn chế sử dụng đối với nhóm neonicotinoid, được nghi ngờ là một yếu tố góp phần gây ra rối loạn sụp đổ đàn ong. Ví dụ như acetamiprid, clothianidin, nitenpyram, thiacloprid và imidacloprid. Tác hại của hoá chất bảo vệ thực vật - Tác động của HCBVTV đến môi trường: [1] HCBVTV tác động đến môi trường là do những tính chất chủ yếu sau: dễ bay hơi, dễ hòa tan trong nước và dung môi, bền với quá trình biến đổi sinh học.
+ Tác động đến môi trường đất : Nhiều HCBVTV có thể tồn lưu lâu dài trong đất. Ví dụ : DDT và các chất clo hữu cơ sau khi đi vào môi trường sẽ tồn tại ở các dạng hợp chất liên kết trong môi trường, mà những chất mới thường có độc tính hơn hẳn, xâm nhập vào cây trồng và tích lũy ở quả, hạt, củ sau đó di truyền theo thực phẩm đi vào gây hại cho người, động vật như ung thư, quái thai, đột biến gen… + Tác động đến môi trường nước : HCBVTV có thể đi vào nước do các hoạt động canh tác nông nghiệp như phun HCBVTV để tiêu diệt một số loài (Luan.ms Luan van (Luan.ms 4 sâu bọ làm hại đến mùa màng. Sau đó thiết bị được sử dụng để phun HCBVTV và bao bì chứa HCBVTV không được xử lý đúng cách dẫn đến đổ vào sông, ao, hồ. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tồn dư của HCBVTV trong nước.
+ Tác động đến môi trường không khí : Ô nhiễm không khí do hóa chất BVTV chủ yếu do phun hóa chất. Ngay trong quá trình phun hóa chất, các hạt nhỏ bay hơi tạo thành những hạt mù lỏng có thể bay rất xa theo gió. Thông thường HCBVTV thường dễ bay hơi, gây ô nhiễm và rất nguy hiểm nếu hít phải HCBVTV trong không khí. - Tác động của HCBVTV đến sức khỏe con người [1]: Hầu hết HCBVTV đều độc với con người và động vật ở các mức độ khác nhau.
Theo đặc tính HCBVTV được chia làm hai loại: chất độc cấp tính và chất độc mãn tính. + Chất độc cấp tính: Mức độ gây độc phụ thuộc vào lượng hóa chất xâm nhập vào cơ thể. Ở dưới liều gây chết, chúng không đủ khả năng gây tử vong, dần dần bị phân giải và bài tiết ra ngoài. Loại này bao gồm các hợp chất pyrethroid, những hợp chất cơ photpho, carbamat, hóa chất có nguồn gốc sinh vật.
+ Chất độc mãn tính: Có khả năng tích luỹ lâu dài trong cơ thể vì chúng rất bền, khó bị phân giải và bài tiết ra ngoài. Hóa chất loại này gồm nhiều hợp chất chứa clo hữu cơ, chứa Thạch tín (Asen), Chì, Thuỷ ngân, đây là những loại rất nguy hiểm cho sức khoẻ. HCBVTV có thể thâm nhập vào cơ thể con người và động vật qua nhiều con đường khác nhau, thông thường qua 03 đường chính: hô hấp, tiêu hoá và tiếp xúc trực tiếp. Khi tiếp xúc với HCBVTV, con người có thể bị nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính, tùy thuộc vào phạm vi ảnh hưởng của hóa chất.
+ Nhiễm độc cấp tính: Là nhiễm độc tức thời khi một lượng đủ lớn HCBVTV thâm nhập vào cơ thể. Biểu hiện bệnh lý của nhiễm độc cấp tính: mệt mỏi, ngứa da, đau đầu, lợm giọng, buồn nôn, hoa mắt chóng mặt, khô họng, mất ngủ, tăng tiết nước bọt, yếu cơ, chảy nước mắt, sảy thai, nếu nặng có thể gây tử vong. + Nhiễm độc mãn tính: Là nhiễm độc gây ra do tích luỹ dần dần trong cơ thể. Sau một thời gian dài, một lượng chất độc lớn tích tụ trong cơ thể sẽ (Luan.ms Luan van (Luan.ms 5 gây ra các triệu chứng lâm sàng.
Biểu hiện bệnh lý của nhiễm độc mãn tính: kích thích các tế bào ung thư phát triển, gây đẻ quái thai, dị dạng, suy giảm trí nhớ và khả năng tập trung, suy nhược nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, gây tổn hại cho gan, thận và não. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT CƠ CLO 1. Định nghĩa hóa chất bảo vệ thực vật cơ clo - Hóa chất bảo vệ thực vật cơ clo (OCPs) là một loại HCBVTV được tổng hợp từng được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Chúng được biết là có độc tính cao, phân hủy chậm và dễ tích tụ trong môi trường.
Có rất nhiều hợp chất OCPs khác nhau, điển hình là : DDT, Eldrin và Lindane. - OCPs là những hợp chất ít tan trong nước, nhưng tan nhiều trong các dung môi hữu cơ. Rất bền trong môi trường và có tính tồn dư lâu dài. - Có tính hóa học bền vững, tồn tại lâu trong môi trường sống, gây ô nhiềm môi trường.
Một số hợp chất còn có khả năng tích lũy trong cơ thể sinh vật, gây hiện tượng trúng độc mãn tính hoặc tích lũy sinh học (khuếch đại sinh học) trong chuỗi thức ăn tự nhiên. Một số loại hóa chất bảo vệ thực vật cơ clo [4] Trong nghiên cứu này 18 hợp chất OCPs được tiến hành nghiên cứu, các tính chất hóa lý của 18 hợp chất OCPs được trình bày trong Bảng 1.ms Luan van (Luan.1: Tính chất hóa lý của một số OCPs Khối Tính chất vật lý lƣợng Tên hóa LC50 ADI MRL STT Công thức cấu tạo phân chất Độ tan (mg/kg) (µg/kg) (µg/kg) tử logKow P(mmHg) (µg/L) (g/mol) 1 α-BHC 290,8 5,7 4,5×10-5 5,0 >100,0 0,6 - 2 β-BHC 290,8 5,7 3,6×10-7 5,0 >100,0 0,6 - 3 γ-BHC 290,8 5,7 4,2×10-5 5,0 >100,0 0,6 - Luan van (Luan.