ĐẶT VẤN ĐỀ Lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 16 vĩ độ, kéo dài theo hƣớng Bắc - Nam, nằm trong khu vực chịu ảnh hƣởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á, đã tạo điều kiện cho đất nƣớc Việt Nam có nguồn tài nguyên động thực vật phong phú và đa dạng, đứng trong 10 nƣớc đa dạng sinh học nhất trên thế giới. Theo thống kê đến hết năm 2016, tổng diện tích rừng nƣớc ta có khoảng 14,38 triệu ha, trong đó khoảng 10,24 triệu ha rừng tự nhiên và 4,14 triệu ha rừng trồng, tỷ lệ che phủ đạt 41,19% (Bộ NN&PTNT 2017)[1] hàng năm không những chỉ cung cấp hàng triệu m3 gỗ, hàng trăm nghìn tấn lâm sản ngoài gỗ. Tuy diện tích rừng trồng tăng hàng năm khá nhanh, nhƣng chủ yếu là diện tích gây trồng các loài cây mọc nhanh ngoại nhập nhƣ Keo, Bạch đàn,. nhằm mục đích kinh doanh gỗ nhỏ, gỗ nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp trọng điểm nhƣ dăm gỗ, bột giấy, ván nhân tạo,.
còn rừng trồng các loài cây bản địa cung cấp gỗ lớn và lâm sản ngoài gỗ phục vụ phát triển kinh tế xã hội, mà còn góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo cho hàng triệu đồng bào và bảo vệ môi trƣờng sinh thái ở vùng nông thôn, miền núi Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của đề án tái cơ cấu ngành nhất là trong thời kỳ đóng cửa rừng tự nhiên hiện nay. Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A.) là cây gỗ lớn bản địa, đặc hữu, đa tác dụng có vai trò quan trọng đối với các ngành lâm nghiệp của nƣớc ta. Nó không chỉ cung cấp gỗ lớn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp gỗ, ngành xây dựng mà còn vừa cung cấp hạt, vỏ chứa nhiều tinh dầu, có mùi thơm và vị cay dùng làm gia vị để chế biến thức ăn, làm hƣơng liệu trong công nghiệp hóa mỹ phẩm và làm thuốc chữa bệnh ngay trong những năm đầu sau khi trồng. Nên Giổi ăn hạt đƣợc ƣu tiên lựa chọn là một trong những loài cây gỗ bản địa vừa cung cấp gỗ lớn, vừa cung cấp lâm sản ngoài c 2 gỗ chính trong chƣơng trình phát triển lâm nghiệp bền vững và đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp ở nhiều vùng, nhiều địa phƣơng.
Tuy nhiên, do nguồn cung cấp giống có chất lƣợng đƣợc loài cây này còn rất hạn chế mà nguyên nhân trực tiếp là do thiếu các kết quả nghiên cứu về chọn, nhân giống và nguồn giống đã đƣợc cải thiện để cung cấp vật liệu giống tốt phục vụ cho sản xuất đại trà ở các địa phƣơng. Ở nhiều địa phƣơng nhƣ Phú Thọ, Hòa Bình, Thanh Hóa,. mặc dù đã gây trồng hàng trăm ha, nhƣng nguồn giống gây trồng còn xô bồ, vật liệu gây trồng bằng cây con đƣợc gieo ƣơm từ hạt, diện tích gây trồng nhỏ lẻ, phân tán, manh mún nên thời gian cho sản phẩm dài, năng suất thấp, chất lƣợng không ổn định. Vì vậy, việc "Nghiên cứu kỹ thuật chọn tạo giống cây Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A.Chev) tại Đoan Hùng - Phú Thọ" là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về cây Giổi ăn hạt Theo Triệu Văn Hùng (2007) [23], cây Giổi ăn hạt có tên khoa học là: Michelia tonkinensis A.Chev, 1918, thuộc họ Mộc lan (Magnoliaceae). Giổi ăn hạt là loài cây gỗ lớn, thƣờng xanh, cao 25 - 30m, đƣờng kính 40 -60cm có khi trên 1m, tán nhỏ, màu xanh đậm. Thân tròn, thẳng, gốc có bạnh vè nhỏ, vỏ nhẵn, màu xám hoặc nâu nhạt, có nhiều vết địa y hình bản, gỗ vàng hoặc xanh nhạt, có mùi thơm nhẹ.
Phân cành cao, cành mọc chếch, cành non nhẵn, có nhiều vết sẹo do vòng lá kèm để lại và có nhiều lỗ vỏ rải rác. Lá đơn, mọc cách, xếp đều trên cành; phiến lá dài, cứng, dài 8-25 cm, rộng 5-12cm, hình bầu dục hẹp, đầu có mũi nhọn ngắn, gốc lá tròn hoặc hình nêm, mặt trên màu lục đậm xanh bóng, mặt dƣới màu lục nhạt. Gân bên 10 - 12 đôi nổi rõ, cuống lá dài 1-2 cm; phiến lá và cuống lá nhẵn. Lá kèm nhọn, sớm rụng để lại vết sẹo trên cành non.
Hoa đơn độc mọc ở đầu cành hay đối diện với chỗ đính của cuống lá; cuống hoa dài 2,5 -3,5 cm, bao hoa nhiều, mọc vòng, chƣa phân hoá thành đài và tràng, màu trắng hay vàng nhạt, có mùi thơm; nhị nhiều, lá noãn nhiều. Cả nhị và lá noãn đều xếp xoắn ốc trên một trục hoa hình trụ. Quả dài 7-10cm. Quả chín có nội nhũ màu đỏ, mềm, có vị ngọt; hạt to khoảng 1cm, có tinh dầu thơm, vị cay.
Cây giổi ăn hạt là loài cây đặc hữu của Việt Nam, phân bố từ Lào Cai đến các tỉnh Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, tập trung nhiều ở Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Kon Tum, Gia Lai. Lúc nhỏ Giổi ăn hạt là cây trung tính, lớn lên là cây ƣa sáng, thƣờng vƣơn lên chiếm tầng cao nhất của rừng. c 4 Cây trồng từ hạt sau 8-10 năm mới ra hoa kết quả; cây ra hoa 2 vụ một năm. Vụ chính ra hoa tháng 2-3, quả chín tháng 9-10; mùa phụ ra hoa tháng 7-8, quả chín vào tháng 3-4 năm sau.
Giổi ăn hạt là cây gỗ đa tác dụng. Hạt giổi có tinh dầu và là loại gia vị truyền thống của nhân dân vùng núi phía Bắc, giống nhƣ hạt tiêu ở các tỉnh phía Nam. Hạt và vỏ cây có tác dụng làm thuốc kích thích tiêu hoá, trị đau bụng, ăn không tiêu. Vỏ cây còn có tác dụng chữa sốt.
Giổi ăn hạt là là cây đặc hữu và đa tác dụng. Giổi trong rừng tự nhiên đã bị giảm nghiêm trọng do chặt để lấy gỗ. Hiện nay, thị trƣờng tiêu thụ hạt Giổi để làm gia vị khan hiếm, cung không đủ cầu. Vì vậy, cần nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Giổi ăn hạt, nghiên cứu một số đặc điểm về tinh dầu của hạt giổi, nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật nhân giống để phát triển loài cây bản địa quý hiếm này theo hƣớng lấy hạt.
Nghiên cứu về cây Giổi ăn hạt trên thế giới 1. Về phân loại, tên gọi, hình thái và giá trị sử dụng Khi nghiên cứu về chi Giổi (Michelia), hầu hết các nhà phân loại thực vật trên thế giới đã thống nhất và cho rằng chi Giổi có khoảng 70 loài phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu Á (Xia et al, 2008 dẫn theo Vũ Quang Nam, 2009) [24]. Trong đó, cây Giổi ăn hạt thuộc chi Giổi (Michelia), họ Mộc lan (Magnoliaceae) đã đƣợc Chevalier (1918) đặt tên Michelia tonkinensis A.Chev và mô tả hình thái (Prosea, 1998) [49]. Các tác giả cũng đã xác định các loài Michelia tonkinensis A.Chev phân bố chủ yếu ở Trung Quốc và Việt Nam (Xia N.
Do đó, tên loài Michelia tonkinensis A.Chev đƣợc thống nhất sử dụng trên phạm vi toàn thế giới, tƣơng ứng với tên gọi ở Việt Nam là Giổi ăn hạt hay Giổi An Nam. Theo các tác giả, Giổi ăn hạt trên thế giới là cây gỗ lớn, lâu năm, thƣờng xanh, cao c 5 trên 20m, đƣờng kính trên 50cm hoặc hơn. Thân có cấu trúc đơn trục, tròn thẳng, gốc có bạnh vè nhỏ, thân chính rõ ràng, vỏ nhẵn, dày 1-1,5cm, màu xám hoặc nâu nhạt, có nhiều vết địa y hình bản; thịt vỏ vàng hay xanh nhạt, giòn, có mùi thơm nhẹ, phân cành cao, cành mọc chếch, cành non nhẵn, có nhiều vết sẹo do lá kèm để lại và có nhiều lỗ vỏ rải rác. Tán cây thƣờng tròn có độ dày từ 1/5 ÷ 1/4 chiều cao vút ngọn.
Lá đơn, mọc cách, xếp đều trên cành; phiến lá dai, cứng mùi thơm giống lá hồi khi vò nát. Cuống lá dài 1,3 - 1,9cm, mặt trên lõm nhẹ. Lá dài từ 10 ÷ 27 cm, rộng 4 ÷ 9,5 cm, có dạng trứng ngƣợc tới xoan - trứng ngƣợc, hai mặt có màu lục tƣơi gần giống nhau, bóng và không lông. Gốc lá hình nêm rộng, đầu lá tù với phần chóp tù dài khoảng 2 ÷ 5mm, gân bên 10 -12 đôi nổi rõ, gân tam cấp hình mạng dày, dễ nhận thấy bằng mắt thƣờng.
Lá kèm nhọn, sớm rụng để lại vết sẹo trên cành non. Gỗ Giổi ăn hạt có màu vàng nhạt, phần giác và phần lõi phân biệt rõ ràng. Vòng sinh trƣởng (vòng năm) rõ và có thể phân biệt đƣợc bằng mắt thƣờng. Gỗ Giổi ăn hạt cứng, chịu lực vừa phải, kết cấu gỗ trung bình, thớ gỗ mịn, cứng, tốt, có vân đẹp, chịu đƣợc mƣa nắng, ít bị mối mọt, ít cong vênh và bền nên có nhiều công dụng.
Gỗ đƣợc sử dụng trong xây dựng, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ hoặc dùng để trang trí nội thất. Gỗ còn đƣợc sử dụng trong công nghiệp sản xuất, chế biến gỗ. Quả chứa nhiều tinh dầu, có mùi thơm, có vị cay thƣờng đƣợc dùng làm gia vị trong chế biến thức ăn, làm hƣơng liệu (Prosea, 1998). Ngoài ra, Cây Giổi ăn hạt có tán lá rộng, có khả năng giữ nƣớc tốt, có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn, điều hòa, làm sạch không khí nên đƣợc lựa chọn để trồng rừng phòng hộ và trồng cây đƣờng phố, trồng trong các khu đền chùa (Lim T.
Nhƣ vậy, Giổi đã đƣợc các nhà khoa học trên thế giới mô tả đặc điểm hình thái và một số đặc điểm hình thái khá đầy đủ, làm cơ sở khoa học cho việc phân loại và nhận biết. Tuy nhiên, các thông tin mô tả hình thái ngắn c 6 gọn, theo phƣơng pháp phân loại kinh điển dựa trên các mẫu đƣợc thu thập đƣợc chủ yếu ở Trung Quốc, khó nhận biết đƣợc cây Giổi trong thực tế sản xuất ở Việt Nam hiện nay. Về đặc điểm sinh thái, kỹ thuật gây trồng Đã có một số kết quả nghiên cứu ở nƣớc ngoài về cây Giổi ăn hạt. Các kết quả nghiên cứu đều cho rằng cây Giổi ăn hạt thƣờng phân bố tự nhiên trong rừng thƣờng xanh ở các vùng có độ cao từ 300–800m so với mực nƣớc biển, lƣợng mƣa từ 1.500mm, nhiệt độ trung bình năm từ 20-250C.
Giổi phân bố tự nhiên trên nhiều loại đất phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau nhƣ mác ma a xít, phiến thạch sét, phiến thạch mi ca, biến chất, đất cát pha, nhƣng sinh trƣởng và phát triển tốt trên các loại đất tầng dày, ẩm, giàu dinh dƣỡng, hơi dốc, thoát nƣớc tốt. Giổi ăn hạt thƣờng phân bố trong rừng tự nhiên hỗn loài, lá rộng, thƣờng xanh, theo từng đám hoặc dải, hoặc tập trung ngoài bìa rừng (Xia N. Giổi là loài cây sinh trƣởng nhanh, có thể sinh trƣởng tốt trên đất thoái hoá.