Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Suy thận mạn 1. Định nghĩa suy thận mạn theo KDIGO 2012 (Kidney Disease Improving Global outcomes) Bệnh thận mạn (Chronic kidney disease) là những bất thường về cấu trúc hoặc chức năng, kéo dài trên 3 tháng và ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. - Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thận mạn (BTM): dựa vào 1 trong 2 tiêu chuẩn sau: + Triệu chứng tổn thương thận (có biểu hiện 1 hoặc nhiều) Có albumine nước tiểu (Tỷ lệ albumine creatinine nước tiểu > 30mg/g hoặc albumine nước tiểu 24 giờ > 30mg/24 giờ ).
Bất thường nước tiểu. Bất thường điện giải hoặc các bất thường khác do rối loạn chức năng ống thận. Bất thường về mô bệnh học thận. Xét nghiệm hình ảnh học phát hiện thận tiết niệu bất thường.
Ghép thận + Giảm mức lọc cầu thận (Glomerular Filtratione rate - GFR) < 60ml/phút/1,73m2 (xếp loại G3a - G5). Với mức cầu thận đánh giá đáng giá dựa vào độ thanh lọc creatinine ước tính theo công thức Cockcroft Gaul hoặc dựa vào độ lọc cầu thận ước tính (estimated GFR, eGFR ) dựa theo công thức MDRD. Công thức Cockcroft Gaul ước đoán độ thanh lọc creatinine từ creatinine huyết thanh. Công thức MDRD (Modification of Diet in Renal Disease Study) ước lượng mức lọc cầu thận từ creatinine huyết thanh [54].
Biểu hiện lâm sàng của suy thận mạn Nguyên nhân thường gặp của STM [28]: - Bệnh cầu thận nguyên phát: viêm cầu thận khu trú, viêm cầu thận tăng sinh màng, bệnh cầu thận IgA, viêm mạch máu do ANCA, bệnh nang thận hoặc bệnh thận bẫm sinh. - Bệnh cầu thận thứ phát: bệnh đái tháo đường, viêm cầu thận hậu nhiễm liên cầu trùng, bệnh cầu thận do HIV. - Viêm ống thận mô kẻ: do thuốc, do dị ứng, do ngộ độc kim loại nặng. - Bệnh thận do tắc nghẽn: bệnh tuyến tiền liệt, do sỏi đường tiết niệu, do u sau phúc mạc.
- Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, xơ hóa mạch máu thận, hẹp mạch thận. - Phù: Bệnh nhân thường phù toàn thân kèm theo tiểu ít. Phù không chỉ do giữ natri mà là do nhiều yếu tố kết hợp, có thể còn ảnh hưởng của hội chứng thận hư, có suy tim kết hợp hoặc do những yếu tố về nội tiết khác. - Thiếu máu: Thiếu máu là sự giảm một hoặc nhiều các thành phần cấu tạo nên hồng cầu như hemoglobin, hematocrite hoặc số lượng hồng cầu.
Theo hội thận học Hoa kỳ, thiếu máu là khi Hb< 13g/dL đối với nam và < 12g/dL đối với nữ. Thiếu máu trong bệnh thận mạn đa số là thiếu máu đẳng sắc đẳng bào. Thiếu máu xuất hiện sớm trong bệnh thận mạn và tăng dần khi chức năng thận suy giảm.Trong bệnh thận mạn các yếu tố gây nên tình trạng thiếu máu bao gồm: thiếu sắt, axit folic, Vitamin B12, xuất huyết tiêu hóa, cường cận giáp, tổng hợp Erythropoietin tại thận bị giảm, đời sống hồng cầu bị giảm, một số yếu tố ức chế hoạt động của Erythropoietin. - Tăng huyết áp (THA): bệnh thận mạn gây ra THA nhưng THA là một yếu tố thúc đẩy nhanh quá trình suy thận mạn.
THA xuất hiện sớm trong bệnh thận mạn và tỷ lệ THA cùng với dầy thất trái gia tăng theo thời gian của bệnh thận mạn, kiểm soát huyết áp giữ vai trò quan trọng trong điều trị làm chậm 5 tiến triển của bệnh thận mạn. Cơ chế của THA trong bệnh thận mạn là: quá tải tuần hoàn, tăng hoạt tính rennin angiotensin aldosteron, rối loạn thăng bằng giữa chất co và giãn mạch, sử dụng Erythropoietin, dầy thất trái và bệnh cơ tim dãn nỡ là yếu tố chính duy trì tình trạng THA và quá tải tuần hoàn, và cũng là yếu tố tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của bệnh nhân STM - Tổn thương xương: Biểu hiện trên lâm sàng như đau nhức xương, biến dạng xương, nặng nề hơn là gãy xương bệnh lý. Khi STM, thận giảm bài tiết phospho và canxi, gây tăng phospho trong máu, calcium máu giảm khi phospho trong máu tăng kích thích tuyến cận giáp tiết PTH. Hậu quả của rối loạn chuyển hóa calcium và phospho là cường tuyến cận giáp thứ phát, tổn thương xương do mất chất khoáng, tổn thương do lắng đọng phức hợp canxi phospho ngoài xương tại các mô mềm, tại khớp, mô quanh khớp, cơ tim, mắt, phổi và mạch máu.1: Rối loạn chuyển hóa can xi, phospho trong bệnh thận mạn [15] 6 - Vai trò của hạ can xi máu: Giảm can xi ion hóa và can xi huyết tương với rối loạn chức năng thận (thường khi MLCT 15-29ml/phút/1,73m2 da) dẫn đến cân bằng âm về can xi [36], [80].
Đây là hậu quả của việc giảm vận chuyển tích cực can xi ở ruột, tăng phospho máu, ăn thiếu can xi, nồng độ can xi thấp trong dịch lọc thận nhân tạo. - Vai trò của phospho: rối loạn chuyển hóa phosphat đóng vai trò cường cận giáp thứ phát ở giai đoạn sớm của bệnh thận mạn. Điều hòa chuyển hóa phospho chủ yếu xảy ra ở thận. Khi MLCT giảm ở mức 20-25 ml/phút/1,73m2, khả năng đào thải phospho của thận bị giảm và xuất hiện tăng phospho máu [36].
Nó tác động trực tiếp hay gián tiếp lên sự tiết PTH bằng 3 cách: + Giảm can xi ion hóa huyết tương: sự lắng động can xi trong xương tùy thuộc vào khả năng lấy được phospho từ đó mà sự ứ động phospho trong huyết tương sẽ thuận lợi cho can xi đi vào xương và góp phần làm giảm can xi huyết. + Giảm tiết calcitriol qua yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (FGF-23). + Kích tích trực tiếp tăng tiết PTH. - Vai trò của toan máu: Toan máu cũng tham gia vào quá trình gây cường cận giáp.
Toan máu làm thuận lợi hơn tăng phospho máu, giảm can xi máu và tổng hợp calcitriol bị ảnh hưởng. - Rối loạn thần kinh: Giảm trí nhớ, rối loạn giấc ngủ, lơ mơ, co giật toàn thân hoặc hôn mê. - Rối loạn tiêu hóa: Buồn nôn, đau thượng vị, nấc cụt, tiêu chảy. - Rối loạn nội tiết tố: Vô kinh ở nữ, bất lực ở nam.
- Các rối loạn lipit máu: Là một nguy cơ lớn đối với tỷ lê mắc bệnh và tỷ lệ tử vong các bệnh lý tim mạch trong cộng đồng nói chung và nhóm bệnh thận nói riêng, các thành phần lipit theo tỷ lệ khác nhau chủ yếu là tăng 7 cholesterol toàn phần và tăng triglycerit. Bệnh thận mạn hoạt động của men lipoprotein lipase và hepatic triglycerit lipase bị giảm ảnh hưởng đến chuyển hóa của các lipoprotein giàu triglycerit và chứa apo - lipoprotein - B bởi gan và các mô ngoại biên, là căn nguyên của chứng xơ vữa động mạch. - Liên quan đến dinh dưỡng: là vấn đề quan trọng và không được chú trọng ở các bệnh lý mạn tính, trong đó có bệnh lý thận, trong khi ảnh hưởng của nó rất quan trọng và kéo dài. Bệnh thận mạn tiến triển qua các giai đoạn đòi hỏi phải có chế ăn phù hợp về protein, carbohydrate, lipit và muối khoáng.
Cận lâm sàng của suy thận mạn - Công thức máu: thiếu máu đẳng sắc, đẳng bào. - Xét nghiệm sinh hóa: ure, creatinin trong máu tăng. - Xét nghiệm nước tiểu tìm protein hoặc albumine trong nước tiểu - Siêu âm bụng: kích thước thận teo nhỏ, mất phân biệt vùng vỏ và vùng tủy, phát hiện thận đa nang, các bất thường của hệ niệu - Chụp KUB, Computer Tomography scanner bụng tìm nguyên nhân STM. - Chẩn đoán xác định bệnh thận mạn, khi các xét nghiệm vẫn bất thường trong những lẩn xét nghiệm lặp lại sau trong vòng 3 tháng.
Phân loại suy thận mạn Công thức tính độ lọc cầu thận theo MDRD (Modification of Diet in Renal Disease): GFR (ml/phút/1,73m2) =1,86 x Pcr - 1. Hiện tại chúng tôi tính độ lọc cầu thận theo MDRD. Lưu ý công thức ước tính có thể không chính xác trong các trường hợp tuổi cao, thiểu dưỡng nặng hoặc béo phì. Tuy nhiên ta có thể tính mức lọc cầu thận theo công thức Cockcroft Gault: (140- tuổi (năm) x P (trọng lượng cơ thể) x k Clcr = 0,814 x nồng độ creatinin máu (micromol/l ) Hệ số k = 1 (đối với nam) và k = 0,85 (đối với nữ).1: Phân loại STM theo GFR (KDIGO 2012) [67] Giai đoạn Mô tả GFR (ml/phút/ 1,73m2) 1 Tổn thương thận với GFR bình > 90 thường hoặc cao 2 GFR giảm nhẹ 60-89 3a GFR giảm nhẹ đến trung bình 45-59 3b GFR giảm trung bình đến trầm trọng 30-44 4 GFR giảm nặng 15-29 5 Suy thận < 15 hoặc thay thế thận 1.
Điều trị suy thận mạn Điều trị STM gồm 3 biện pháp chính: điều trị nguyên nhân, điều trị nội khoa, điều trị thay thế thận. - Điều trị nguyên nhân: giữ vai trò quan trọng loại bỏ các nhất trong việc bảo vệ thận và làm chậm tiến triển của bệnh thận. Khi thận đã suy ( giai đoạn 4, 5 ) do việc chẩn đoán bệnh căn nguyên trở nên khó khăn, và việc điều trị trở nên kém hiệu quả, nên cân nhắc giữa lợi ích và tác hại của thuốc điều trị căn nguyên nhân ở nhóm bệnh này, giải quyết các bất thường đường tiết niệu. - Điều trị bảo tồn: là điều trị nội khoa, áp dụng cho bệnh nhân từ giai đoạn 1 đến 5, mục đích làm chậm tiến triển đến STM giai đoạn cuối.
+ Ăn lạt: Sodium < 2g/ngày. + Giảm khẩu phần protein trong khẩu phần ăn: áp dụng cho người bệnh có GFR < 30ml/phút/ 1,73m2 da, lượng protein nhập < 0,8g/kg/ngày + Thay đổi lối sống: đạt cân nặng lý tưởng, tránh béo phì, bỏ hút thuốc. + Kiểm soát đường huyết HbA1c < 7%. + Kiểm soát rối loạn lipid máu: LDL- cholesterol < 100mg/dL, HDL- cholestrol > 40mg/dL, triglyceride < 200mg/dL.
+ Điều trị thiếu máu: 9 ESAs (Erythropoietin stimulating Agents): vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Thời điểm: nên bắt đầu dùng ESAs cho người bệnh, bệnh thận mạn có mức Hb 90 -100g/L. Trước khi dùng, nên chẩ đoán và điều trị các nguyên nhân có thể gây thiếu máu khác, nên cân nhắc lợi ích và tác hại của thuốc đối với từng trường hợp cụ thể. Mục tiêu: nồng độ Hb mục tiêu là 11,5g/dL.
Ngừng liệu pháp ESAs nếu Hb > 13g/dL. Liều : Liều khởi đầu: dựa vào Hb, cân nặng và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Với Epoetin alfa hoặc Epoetin beta là 20- 50UI/ kg x 3 lần/ tuần Với Darbeopetin alfa là 0,45mg/kg x 1 lần mỗi tuần tiêm dưới da hoặc tĩnh mạch, hoặc 0,75mg/kg x 1 lần mỗi 2 tuần tiêm dưới da. Với CERA là 0,6 mg/kg x1 lần mỗi 2 tuần tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch hoặc 1,2 mg/kg x1 lần mỗi 4 tuần tiêm dưới da.
Việc điều chỉnh liều nên dựa vào nồng độ Hb và sự thay đổi của nó, liều ESAs hiện dùng và tình trạng lâm sàng của người bệnh.