MỞ ĐẦU CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CHƯƠNG 3: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. Giới thiệu về thanh long 2. Nguồn gốc và tình hình phát triển Thanh long (Hylocereus spp.) còn gọi là Pitaya hay Pitahaya là một loại cây xương rồng thuộc họ Cactaceae, thuộc phân họ Catoidea của tông Cactea (Jaafar và cộng sự, 2009). Chúng là loài cây nhiệt đới và có nguồn gốc từ Mexico, Châu Á và Nam Mỹ (Perween và cộng sự, 2018).
Hiện nay, thanh long được trồng thương mại ở hơn 20 quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới như Úc, miền nam Florida, Mexico, Nhật Bản, miền nam Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Thái Lan,…(Wong & Siow, 2015). Sự tồn tại của cây thanh long ở nhiều vùng nhiệt đới là do nó có khả năng chịu được khí hậu khô với nhiệt độ lên tới 40°C (Minh và cộng sự, 2019). Tại Việt Nam, thanh long được trồng rộng rãi và phổ biến. Chúng được coi là loại cây có nhiều tiềm năng, không chỉ cho năng suất cao, chất lượng tốt mà còn cho hiệu quả kinh tế rất lớn.
Tính đến thời điểm năm 2022 diện tích trồng thanh long trên địa bàn cả nước đạt gần 55.000 ha, sản lượng 1. Việt Nam được đánh giá là một trong 4 quốc gia có sản lượng thanh long cao nhất thế giới (Theo Tổng cục Thống kê). Ở Việt Nam, cây thanh long được trồng nhiều ở các tỉnh như: Bình Thuận chiếm 50,73% diện tích cả nước, tiếp đến là Tiền Giang 16,42%, Long An là 15,15%. Năm 1995, cả nước mới có 2,3 nghìn hecta thanh long, sản lượng 22,8 nghìn tấn.
Đến năm 2022, diện tích thanh long nước ta đạt 54,8 ngàn hecta, năng suất 243,7 tạ/ha, sản lượng 1.285,9 nghìn tấn, trong đó: Duyên hải Nam Trung Bộ có diện tích thanh long lớn nhất 28 nghìn hecta, sản lượng đạt 595,1 nghìn tấn, tập trung chủ yếu ở tỉnh Bình Thuận, diện tích 27,8 nghìn hecta, sản lượng 594 ngàn tấn. Sản lượng và diện tích trồng thanh long của Việt Nam giai đoạn 2016-2019 2016 2017 2018 2019 Sản lượng (Đơn vị: Triệu tấn) 0,8337 0,9528 1,0561 1,2425 Tăng trưởng sản lượng hàng năm (%) 14,29 4,95 20 Diện tích (Đơn vị: Ha) 44.000 Tăng trưởng diện tích hàng năm (%) 10 10 1,685 4 2. Đặc điểm hình thái của thanh long Thanh long là loại cây thân bò lan. Thân và cành có màu xanh, có 3 cạnh, bìa cạnh có nhiều thùy nhỏ tạo thành hình gợn sóng.
Đáy mỗi thùy có 3-5 gai nhỏ. Nếu cắt ngang thân có thể thấy có 2 phần rõ rệt, phần ngoài là nhu mô chứa diệp lục, phần trong là lõi cứng hình trụ, quang hợp theo kiểu các cây vùng sa mạc. Số lượng cành trên cây tăng dần theo độ tuổi, cây một năm tuổi trung bình có khoảng 30 cành, hai năm tuổi có 70 cành, ba năm tuổi có 100 cành, bốn năm tuổi có 130 cành, từ năm năm tuổi trở lên duy trì khoảng 150-170 cành. Chiều dài cành từ 80-100 cm.
Hoa thanh long là loại hoa lưỡng tính, tương đối lớn, dài trung bình 25-35 cm, nhiều lá đài và cành hoa dính vào nhau thành ống. Có nhiều nhị đực với vòi nhị đài và mô nhụy cái dài 18-24cm, đường kính 5-8 mm, núm nhụy chia làm nhiều nhánh. Hoa thanh long ra từng bông xung quanh cành, hoa tự thụ phấn. Hoa thường nở tập trung từ 3-5 ngày, từ hoa nở đến quả chín 30-35 ngày.
Tại Việt Nam, giống thanh long được trồng phổ biến là thanh long ruột trắng vỏ đỏ (trồng nhiều ở Bình Thuận và Chợ Gạo), thanh long vỏ đỏ ruột đỏ LĐ1 và vỏ đỏ ruột tím hồng LĐ5 (do Viện Cây Ăn Quả Miền Nam lai tạo). Theo sự phân nhóm quả theo cường độ hô hấp, thì thanh long là loại quả có cường độ hô hấp thấp khi chín (70-100 mg CO2/kg/giờ). Cường độ hô hấp của quả cao khi quả còn xanh và giảm dần khi chín. Ngoài ra thanh long là loại quả không có đỉnh hô hấp đột biến (Chiến và cộng sự, 2007) và có nguồn gốc nhiệt đới với khả năng chịu hạn giỏi nên được trồng ở các vùng nóng.
Quả thanh long là loại quả mọng, hình bầu dục có nhiều tai lá xanh, đầu quả lõm sâu thành một hốc. Khi còn non vỏ quả màu xanh, khi chín chuyển sang màu đỏ hồng. Thịt quả có vị ngọt, màu đỏ hoặc hơi trắng, xen kẽ với nhiều hạt nhỏ màu đen. Quả có thể được tiêu thụ tươi hoặc dùng làm thạch, rượu, đồ uống và mứt (Lobo và cộng sự, 2013; Sonawane, 2017).
Kích thước quả dài phổ biến từ 12,5-16 cm, đường kính 10-13 cm, trọng lượng từ 300-500 g. Cây thanh long (a), Hoa thanh long (b), Quả thanh long (c) 5 2. Thành phần dinh dưỡng của quả thanh long Thanh long vỏ đỏ ruột trắng, vỏ quả có màu đỏ hấp dẫn, thịt quả có nhiều Vitamin C và nguyên tố khoáng như sắt, phospho, kali…Có chứa phytoalbumin mà giá trị cao là tính chất chống oxi hóa. Hàm lượng đường của thanh long thì thấp hơn các loại quả nhiệt đới khác và như vậy lại rất phù hợp với những người bị bệnh tiểu đường và huyết áp cao.
Ngoài ra, quả thanh long còn có hàm lượng sorbitol cao, năng lượng thấp hơn các loại quả khác vì vậy rất tốt cho người lớn tuổi (Lau và cộng sự, 2005). Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng có trong 100g thanh long theo USDA (2019) Thành phần dinh dưỡng Hàm lượng Đơn vị Nước 84 g Năng lượng 57 kcal Chất đạm 0,36 g Tổng lipid (chất béo) 0,14 g Carbohydrate, theo sự khác biệt 15,2 g Chất xơ, tổng khẩu phần ăn 3,1 g Đường, tổng cộng bao gồm NLEA 9,75 g Canxi, (Ca) 9 mg Sắt, (Fe) 0,18 mg Magie, (Mg) 7 mg Phốt pho, (P) 12 mg Kali, (K) 116 mg Natri, (Na) 1 mg kẽm, (Zn) 0,1 mg Đồng, (Cu) 0,082 mg Selen, (Se) 0,1 µg Vitamin C, (axit ascorbic tổng số) 4,3 mg Thiamin 0,012 mg Riboflavin 0,026 mg Niacin 0,161 mg Vitamin B-6 0,029 mg Vitamin A, (RA) 1 µg Caroten, (beta) 14 µg 6 Caroten, (alpha) 1 µg Cryptoxanthin, (beta) 2 µg Vitamin E (alpha-tocopherol) 0,12 mg Vitamin K (phylloquinone) 4,4 µg 2. Tình hình xuất khẩu thanh long tại Việt Nam Trong nhiều năm liền, thanh long là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành rau quả Việt Nam. Trong đó, giai đoạn từ năm 2017 đến 2021 liên tục ở mốc hơn một tỷ USD (Theo Hiệp hội Rau Quả Việt Nam).
Qua thống kê, hiện nay 80 đến 85% sản lượng thanh long của nước ta sản xuất ra hằng năm phục vụ xuất khẩu. Trong đó, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu thanh long chủ lực, chiếm tỷ trọng hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2022. Cho đến tháng 1/2024, thanh long xuất khẩu đạt gần 64 triệu USD, tăng gần 73% so với tháng 12/2023 và tăng 36,7% so với cùng kỳ năm 2023. Các thị trường xuất khẩu thanh long lớn nhất của Việt Nam giai đoạn 2019- 2021 (Đơn vị: USD) 2021 Quốc gia 2019 2020 (11 tháng) Trung Quốc 1.912 Tổng kim ngạch 1.872 *Nguồn: Sở Công thương Tiền Giang, Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến Thương mại, 2021b Nghiên cứu Ấn Độ và Châu Á.9-16 Ngoài thanh long quả tươi, hiện nay, Việt Nam cũng sản xuất các sản phẩm chế biến từ thanh long như nước ép, sấy khô, bánh mì thanh long… Một số sản phẩm thanh long chế biến đã được xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu thanh long các loại (Đơn vị: Triệu USD) Sản phẩm thanh long phổ biến 2019 2020 Thanh long tươi ruột trắng 1,080 769,92 Thanh long tươi ruột đỏ 152,47 270,3 Sản phẩm thanh long qua chế biến (nước ép 2,73 10,663 thanh long, thanh long sấy) *Nguồn: Sở Công thương Tiền Giang, Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến Thương mại, 2021a Để thanh long được xuất khẩu qua các thị trường khó tính như Mỹ, Châu Âu, thanh long cần đạt được các tiêu chuẩn như chứng nhận theo tiêu chuẩn GlobalGaP, VietGAP… Ngoài ra giống thanh long được phép xuất khẩu qua thị trường Mỹ là thanh long ruột trắng và ruột đỏ. Quả sạch, hình dạng đẹp, vỏ có màu đỏ trên 70% diện tích quả. Quả vừa chín khoảng 80-85%, vỏ quả trong giai đoạn cuối chuyển từ màu xanh sang màu đỏ, tai quả thằng, dày, cứng, có màu xanh và kích thước thanh long đạt chuẩn xuất khẩu phải có chiều dài trên 1,5 cm. Quả không có vết tổn thương cơ học hay chỗ bị thâm, không có đốm xanh hay vết cháy do nắn và không bị vết của nấm, côn trùng gây hại.
Các lô thanh long xuất khẩu phải đạt các điều kiện về chuẩn kỹ thuật và nguồn gốc xuất xứ: Mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và mã số nhà máy xử lý chiếu xạ. Thanh long xuất khẩu sang Mỹ cần phải tuân thủ Hiệp định vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các chất tồn dư khác ở dưới mức cho phép, không có các loại sâu bệnh thuộc đối tượng dịch hại mà Mỹ quan tâm. Ngoài ra, hiện nay thanh long muốn được xuất khẩu qua các nước Mỹ phải được chiếu xạ khử trùng với liều lượng hấp thụ tối thiểu 400Gy. Giới thiệu về loài rệp sáp Ferrisia virgata nhiễm trên quả thanh long Rệp vằn, Ferrisia virgata Cockerell, là một loài côn trùng nhỏ gây hại cho một số cây nông nghiệp, bao gồm ca cao và cây bông (Kosztarab, 1996; Ameyaw và cộng sự, 2014; Oliveira và cộng sự, 2014).
Ngoài ra, chúng còn sống trên lá dâm bụt (Hibiscus rosa – sinensis), nho biển (Coccoloba) và cây có múi cũng như các loại rau như cà chua, cà tím (Garcia và cộng sự, 2015). Chúng là loài côn trùng ăn nhựa cây, xâm nhập vào mô mạch thông qua một phần miệng giống như ống hút, được gọi là vòi. Sự phá hoại nghiêm trọng của rệp sáp có thể gây chết cho cây trồng. Quần thể rệp sáp lớn xuất hiện dưới dạng tích tụ 8 sáp màu trắng, trông như bông trên cây.
Loại sáp này được sản xuất bởi các tuyến đặc biệt và khiến côn trùng có vẻ ngoài “bụi bặm” từ đó có tên gọi “rệp sáp” Ferrisia virgata được đặt tên theo hai sọc lưng sẫm màu chạy dọc cơ thể. Những sọc này có thể nhìn thấy trên lớp biểu bì của rệp sáp thông qua các mảng trần trên lớp phủ. Chiều dài cơ thể con cái trưởng thành khoảng 2,0 - 4,5 mm (Kaydan và Gullan, 2012). Các đặc điểm nhận dạng khác của rệp sáp sọc là hai đuôi hoặc tua sáp phía sau có chiều dài bằng một nửa cơ thể rệp sáp, sự hiện diện của các que giống như lông, tinh thể kéo dài ra phía ngoài cơ thể và không có túi trứng (túi trứng) (Ferris, 1950).