CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Đặc điểm địa hình và địa mạo khu vực nghiên cứu Địa hình: Địa hình trong lưu vực phần lớn là đồi núi, riêng phần hạ lưu sông giáp biển là đồng bằng (Hình 1. Khu vực nghiên cứu được bao bọc bởi các dãy núi cao ở ba phía: Bắc, Tây và Nam. Chuyển tiếp từ vùng núi cao xuống đồng bằng là vùng trung du với những đồi núi thấp có độ cao từ 20-100 m. Vùng đồng bằng hẹp có địa hình thấp dưới 20 m, phân bối ở một số huyện thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam (Đại Lộc, Duy Xuyên, TX.
Điện Bàn, Thăng Bình, Hội An) và một số quận, huyện thuộc thành phố Đà Nẵng (huyện Hòa Vang, quận Ngũ Hành Sơn, quận Hải Châu). Xen giữa vùng đồng bằng là các dải địa hình cồn cát cao 10-15 m chắn phía ngoài bờ biển. Nhìn chung địa hình của lưu vực biến đổi khá phức tạp, bị chia cắt mạnh mẽ qua các thời kỳ kiến tạo. Địa hình có xu hướng nghiêng dần từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam vào các thung lũng của sông, chỉ được hạ thấp độ cao và mở rộng về phía biển tạo thành dải đồng bằng vùng hạ lưu các sông.
Có thể chia làm 3 vùng địa hình chính: Vùng núi: Địa hình vùng núi chiếm phần lớn diện tích của lưu vực đó là sườn phía Đông của dãy Trường Sơn có độ cao phổ biến từ 500÷2. Đường phân thuỷ của lưu vực là những đỉnh núi có độ cao từ 1. Có thể nói lưu vực đã bị núi bao bọc ở 3 phía Bắc, Tây và Nam gồm nhiều dãy núi cao từ đèo Hải Vân ở phía Bắc lưu vực kéo lên phía Tây rồi Tây Nam và phía Nam lưu vực hình thành một cánh cung bao lấy lưu vực; Vùng trung du: Tiếp theo vùng núi về phía Đông là vùng đồi có địa hình lượn sóng độ cao thấp dần từ Tây sang Đông. Đỉnh đồi tròn, nhiều nơi khá bằng phẳng, sườn đồi có độ dốc 20 ÷ 30o; Vùng đồng bằng: Nằm ở hạ lưu của hệ thống sông VG-TB kể từ Giao Thuỷ và Ái Nghĩa đến cửa Hàn và cửa Đại.
Địa hình có xu hướng thấp dần từ Tây sang Đông, đồng bằng hẹp trải dài ven biển rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. 7 Địa mạo: Khu vực sông Trường Giang và vùng phụ cận chủ yếu được cấu tạo bởi các phân vị trầm tích có tuổi từ Pleistocen sớm đến Holocen muộn (Q11, Q12, Q13(1), Q13(2), Q21, Q22, Q 3) (Hình 2 1. Trầm tích Pleistocen có 7 hệ tầng chuẩn đã được Vũ Khúc, Cát Nguyên Hùng xác lập là hệ tầng Đại Thạch, Đà Nẵng, Thăng Bình, La Châu, Hòa Tiến, Miếu Bông, Đại Phước. Trầm tích Holocen có 4 hệ tầng chuẩn đã được xác lập bởi Cát Nguyên Hùng, Nguyễn Văn Trang là hệ tầng Cẩm Hà, Nam Phước, Kỳ Lam và Nam Ô [4].
Về nguồn gốc trầm tích gồm có 2 loại nguồn gốc đơn là trầm tích nguồn gốc sông (a) và biển (m); 6 loại trầm tích nguồn gốc hỗn hợp là sông - biển (am), sông - biển đầm lầy (amb), biển - vũng vịnh (ml), biển - gió (mv), tàn - sườn tích (ed) và sông - sườn - lũ tích (adp) [4].1: Địa hình và các yếu tố thủy hệ trong khu vực nghiên cứu 8 Hình 1.2: Địa hình và địa mạo khu vực sông Trường Giang 1.2 Đặc điểm khí tượng khu vực nghiên cứu Trong khu vực nghiên cứu có mạng lưới các trạm khí tượng khá đầy đủ, chất lượng tài liệu đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu về tính toán thủy văn trên toàn hệ thống (Bảng 1. Phần lớn các trạm đo có tài liệu quan trắc từ 1976 đến nay. Chỉ có trạm Hội An là có số liệu đo trước đó (từ 1913), tuy nhiên số liệu đo giai đoạn trước lại không liên tục mà bị ngắt quãng trong thời gian từ năm 1943 - 1960. Các trạm đo lúc đầu đặt chủ yếu ở các vùng đồng bằng ven biển.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 5/1975 mạng lưới trạm đo được phát triển mạnh mẽ nhưng chủ yếu ở huyện lỵ, thị trấn. Vùng núi và các nơi hẻo lánh chưa có trạm đo, do đó cũng chưa nắm bắt được sự diễn biến của các hiện tượng tự nhiên trong lĩnh vực khí tượng thủy văn theo không gian một cách chi tiết. Trạm khí tượng Đà Nẵng, Quảng Ngãi tuy quan trắc đã lâu nhưng qua hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ nên cũng bị gián đoạn nhiều.1: Mạng lưới các trạm khí tượng trong khu vực nghiên cứu Vị trí TT Tên trạm Yếu tố quan trắc Liệt tài liệu Kinh độ Vĩ độ 1 Đà Nẵng 108011’ 16002’ X, T, U, Z, V 1980 - nay 2 Trà My 108013’ 15021’ X, T, U, Z, V 1980 - nay 3 Tam Kỳ 108028’ 15034’ X, T, U, Z, V 1980 - nay Ghi chú: X - mưa, T - nhiệt độ, Z - bốc hơi, U - độ ẩm, V - tốc độ gió.2: Mạng lưới các trạm đo mưa xung quanh khu vực nghiên cứu Vị trí TT Tên trạm Yếu tố quan trắc Liệt tài liệu Kinh độ Vĩ độ 1 Bà Nà 107059’ 16000’ X 1980 - 1995 2 Cẩm Lệ 108002' 16000' X 1980 - nay 3 Tiên Sa 108025’ 16010’ X 1980 - 2009 4 Ái Nghĩa 108007' 15053' X 1980 - nay 5 Hội Khách 107049' 15049' X 1980 - nay 6 Thăng Bình 108020’ 15045’ X 1980 - 1996 7 Sơn Phước 108003’ 16001’ X 1980 - 1993 8 Hiên 107039' 15056' X 1980 - nay 9 Thành Mỹ 107050' 15046' X 1980 - nay 10 Nông Sơn 108003' 15042' X 1980 - nay 11 Giao Thuỷ 108001' 15046' X 1980 - nay 12 Câu Lâu 108017' 15051' X 1980 - nay 13 Hội An 108020' 15052' X 1980 - nay 14 Tiên Phước 108018' 15029' X 1980 - nay 15 Sơn Tân 108002' 15034' X 1980 - nay 16 Quế Sơn 108013' 15042' X 1980 - nay 17 Khâm Đức 107047' 15026' X 1980 - nay 10 Nhiệt độ: Nằm trong vành đai nhiệt đới bán cầu Bắc, chế độ nhiệt của Quảng Nam thể hiện tính chất nhiệt đới gió mùa, với một nền nhiệt độ cao và phân bố khá đồng đều quanh năm. Nhìn chung nhiệt độ giảm dần từ Nam ra Bắc và từ Đông sang Tây.
Nhiệt độ hàng năm dao động ít, ít biến đổi theo vĩ độ mà chủ yếu biến đổi theo độ cao. Do sự giảm dần của nhiệt độ theo độ cao nên nhiệt độ ở vùng núi phía tây thấp hơn so với vùng đồng bằng ven biển phía đông: chênh lệch nhiệt độ giữa vùng đồng bằng và vùng núi khoảng 20C (24,60C tại trạm Trà My lên đến 26,10C tại trạm Đà Nẵng). Sự giảm nhiệt độ không những thay đổi theo độ cao mà còn thay đổi theo mùa.4 thể hiện nhiệt độ trung bình ngày tại trạm Đà Nẵng vàTam Kỳ trong giai đoạn 2008 – 2013.3: Nhiệt độ trung bình ngày tại trạm Đà Nẵng (trái) và trạm Tam Kỳ (phải) 11 Bốc hơi: Hình 1.5 thể hiện bốc hơi trung bình ngày tại trạm Đà Nẵng và Tam Kỳ trong giai đoạn 2008–2018. Lượng bốc hơi ở đồng bằng cao hơn so với ở miền núi.
Các tháng có lượng bốc hơi cao nhất là từ tháng 5 đến tháng 8. Đặc biệt, lượng bốc hơi cao nhất được đo vào tháng 7.4: Bốc hơi trung bình ngày (mm) tại trạm Đà Nẵng (trái) và trạm Tam Kỳ (phải) Độ ẩm: Độ tương đối ở Quảng Nam từ 84 đến 87%. Có hai mùa khô và ẩm khá rõ rệt, mùa có độ ẩm cao từ tháng IX đến tháng III năm sau với độ ẩm từ 85 đến 89% ở vùng đồng 12 bằng và từ 88 đến 93% ở vùng núi; mùa có độ ẩm thấp từ tháng IV đến tháng VIII với độ ẩm trung bình từ 77 đến 83% ở vùng đồng bằng và từ 83 đến 85% ở ẩm vùng núi. Giá trị cao nhất và thấp nhất của độ ẩm tương đối được ghi nhận lần lượt vào tháng XI và tháng VII.6 thể hiện độ ẩm trung bình ngày tại trạm Đà Nẵng và Tam Kỳ trong giai đoạn 2008 – 2013.5: Độ ẩm trung bình ngày tại trạm Đà Nẵng (trái) và trạm Tam Kỳ (phải) 13 Số giờ nắng: Hình 1.7 thể hiện số giờ nắng trung bình ngày tại trạm Đà Nẵng và trạm Tam Kỳ trong giai đoạn 2008 – 2013.
Số giờ nắng trung bình năm dao động trong phạm vi từ 1.700 giờ ở vùng núi cao đến 2.000 giờ ở vùng đồng bằng ven biển. Ở hầu hết các tháng trong năm, vùng đồng bằng ven biển phía đông có số giờ nắng lớn hơn so với vùng núi phía tây. Các tháng có giá trị cao nhất và thấp nhất của thời gian nắng lần lượt là vào tháng VII và tháng XII.6: Số giờ nắng trung bình ngày tại trạm Đà Nẵng (trái) và trạm Tam Kỳ (phải) 14 Mưa Lượng mưa trung bình năm ở Quảng Nam thuộc loại lớn hơn so với trong khu vực và cả nước (Hình 1. Lượng mưa tăng dần từ Đông sang Tây, từ vùng thấp lên vùng cao.
Lượng mưa có sự phân hóa theo không gian. Lượng mưa hàng năm trên lưu vực từ 2.000 mm và phân bố như sau: + Lượng mưa từ 3.000 mm ở vùng núi cao như Trà My, Tiên Phước. Trong đó tâm mưa lớn là ở Trà My – thượng nguồn sông Thu Bồn. Đây cũng là trung tâm mưa lớn nhất ở Nam Trung Bộ và là một trong những tâm mưa lớn ở nước ta; + Lượng mưa từ 2.000 mm ở vùng núi Khâm Đức, Nông Sơn, Quế Sơn; + Lượng mưa từ 2.500 mm ở vùng núi thấp và đồng bằng ven biển: Hiên, Hội Khách, Ái Nghĩa, Giao Thủy, Hội An, Đà Nẵng….
Lượng mưa trung bình tháng phân phối không đều trong năm và có dạng 2 đỉnh: đỉnh phụ vào tháng V-VI do mưa tiểu mãn gây ra, đỉnh lớn nhất năm vào tháng X hay tháng XI. Mùa mưa hàng năm thường chỉ kéo dài 4 tháng, từ tháng IX đến tháng XII, nhưng lượng mưa mùa này chiếm tới 60-75% lượng mưa năm. Mùa khô (mùa mưa ít) tuy kéo dài 8 tháng, nhưng lượng mưa mùa này chỉ chiếm 25-40% lượng mưa năm, trong đó lượng mưa của 3 tháng liên tục nhỏ nhất chỉ chiếm 3-6% và thường xuất hiện vào các tháng I-III ở phía tây lưu vực và các tháng II-IV ở các nơi khác. Dãy Trường Sơn có vai trò chính trong việc làm lệch pha mùa mưa của các tỉnh Trung Trung Bộ trong đó có tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng so với mùa mưa cả nước.