Nghiên cứu giá trị tiên đoán biến cố tim mạch sau phẫu thuật ngoài tim bằng NT-proBNP và hsCRP

Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị tiên đoán biến cố tim mạch sau phẫu thuật ngoài tim của NT-proBNP và hsCRP, ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị.

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2018

161
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương các vấn đề tim mạch liên quan đến phẫu thuật

1.2. Các yếu tố nguy cơ tim mạch tiền phẫu

1.3. Các vấn đề chuyên biệt về phẫu thuật

1.4. Các phương pháp đánh giá nguy cơ tim mạch tiền phẫu

1.5. Tổng quan về NT-proBNP

1.6. Tổng quan về CRP

1.7. NT-proBNP và CRP trong tiên đoán biến cố tim mạch sau mổ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Định nghĩa biến số và các tiêu chuẩn chẩn đoán

2.4. Xử lý số liệu

2.5. Vấn đề Y đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

3.2. Các biến cố tim mạch sau phẫu thuật của mẫu nghiên cứu

3.3. Giá trị của NT-proBNP, hs-CRP trong tiên đoán biến cố tim mạch sau phẫu thuật

3.4. Khảo sát hiệu quả của kết hợp Chỉ số Lee với NT-proBNP và/hoặc hs-CRP trong tiên đoán biến cố tim mạch sau phẫu thuật

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

4.2. Các biến cố tim mạch sau phẫu thuật của mẫu nghiên cứu

4.3. Giá trị tiên đoán biến cố tim mạch sau phẫu thuật của NT-proBNP và hs-CRP

4.4. Hiệu quả của kết hợp Chỉ số Lee với NT-proBNP và/hoặc hs-CRP trong tiên đoán biến cố tim mạch sau phẫu thuật

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Nghiên cứu giá trị tiên đoán biến cố tim mạch sau phẫu thuật ngoài tim

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá giá trị tiên đoán của hai dấu ấn sinh học NT-proBNPhsCRP trong việc dự báo các biến cố tim mạch xảy ra sau phẫu thuật ngoài tim. Các biến cố này bao gồm nhồi máu cơ tim, phù phổi, rối loạn nhịp tim nặng và tử vong do tim. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng các chỉ số sinh học để đánh giá nguy cơ tim mạch trước và sau phẫu thuật, giúp cải thiện quy trình chăm sóc bệnh nhân.

1.1. Tổng quan về NT proBNP và hsCRP

NT-proBNP là một peptide lợi niệu được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và tiên lượng các bệnh lý tim mạch, đặc biệt là suy tim. hsCRP là một protein phản ứng C độ nhạy cao, liên quan đến quá trình viêm trong cơ thể. Cả hai chỉ số này đều có tiềm năng trong việc dự đoán các biến cố tim mạch sau phẫu thuật. Nghiên cứu đã phân tích mối liên hệ giữa nồng độ của hai chỉ số này với các biến cố tim mạch hậu phẫu, từ đó đưa ra các điểm cắt giá trị để dự đoán nguy cơ.

1.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm bệnh nhân trải qua phẫu thuật ngoài tim, với các dữ liệu được thu thập trước và sau phẫu thuật. Các phương pháp thống kê như phân tích hồi quy logistic và đường cong ROC được sử dụng để đánh giá giá trị tiên đoán của NT-proBNPhsCRP. Kết quả cho thấy cả hai chỉ số đều có giá trị trong việc dự đoán các biến cố tim mạch, đặc biệt khi kết hợp với Chỉ số Lee.

II. Biến cố tim mạch sau phẫu thuật ngoài tim

Các biến cố tim mạch sau phẫu thuật ngoài tim là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong và biến chứng nặng nề. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhồi máu cơ tim, phù phổi và rối loạn nhịp tim là những biến cố phổ biến nhất. Tỉ lệ tử vong do các biến cố này có thể lên đến 25%, đặc biệt là trong 3 ngày đầu sau phẫu thuật. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi sát sao các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng để phát hiện sớm các biến cố này.

2.1. Nhồi máu cơ tim hậu phẫu

Nhồi máu cơ tim là biến cố nghiêm trọng nhất sau phẫu thuật ngoài tim, với tỉ lệ tử vong cao. Nghiên cứu đã phân tích cơ chế bệnh sinh của nhồi máu cơ tim hậu phẫu, bao gồm sự hình thành huyết khối và tình trạng viêm mạch máu. Các yếu tố kích hoạt như gây mê, đau đớn và tình trạng thiếu máu cũng được đề cập như là những nguyên nhân tiềm ẩn.

2.2. Rối loạn nhịp tim và phù phổi

Rối loạn nhịp tim và phù phổi là hai biến cố thường gặp sau phẫu thuật, đặc biệt ở những bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các chỉ số như NT-proBNP có giá trị cao trong việc dự đoán các biến cố này, giúp bác sĩ có thể can thiệp kịp thời.

III. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ mang lại giá trị học thuật mà còn có ứng dụng thực tiễn cao trong lâm sàng. Việc sử dụng NT-proBNPhsCRP như các chỉ số tiên đoán giúp bác sĩ đánh giá chính xác hơn nguy cơ tim mạch của bệnh nhân trước và sau phẫu thuật. Điều này có thể dẫn đến việc điều chỉnh kế hoạch phẫu thuật, tối ưu hóa quy trình chăm sóc và giảm thiểu các biến cố nghiêm trọng.

3.1. Cải thiện quy trình chăm sóc hậu phẫu

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc kết hợp Chỉ số Lee với NT-proBNPhsCRP có thể cải thiện đáng kể khả năng dự đoán các biến cố tim mạch. Điều này giúp bác sĩ có thể đưa ra các quyết định chính xác hơn trong việc theo dõi và điều trị bệnh nhân sau phẫu thuật.

3.2. Hướng dẫn lâm sàng và khuyến cáo

Nghiên cứu cũng đề xuất việc đưa các chỉ số sinh học này vào các hướng dẫn lâm sàng để đánh giá nguy cơ tim mạch trước phẫu thuật. Điều này có thể giúp giảm tỉ lệ tử vong và biến chứng, đồng thời nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị tiên đoán biến cố tim mạch sau phẫu thuật ngoài tim của ntprobnp và hscrp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương các vấn đề tim mạch liên quan đến phẫu thuật 1. Tầm quan trọng của các biến cố tim mạch sau phẫu thuật Bệnh nhân trải qua phẫu thuật ngoài tim có nguy cơ bị các biến cố về tim mạch nặng như: tử vong do tim, nhồi máu cơ tim, ngừng tim. Bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim sau phẫu thuật ngoài tim ở tại bệnh viện có tỉ lệ tử vong là từ 15% – 25% [132], [89], bệnh nhân ngừng tim sau phẫu thuật ngoài tim có tỉ lệ tử vong là 65% [134]. Nhồi máu cơ tim thường xảy ra trong 3 ngày đầu sau phẫu thuật, giai đoạn mà đa số bệnh nhân còn bị ảnh hưởng bởi thuốc gây mê, do đó thường không có triệu chứng đau ngực khi bị nhồi máu cơ tim [21].

Tỉ lệ bệnh nhân bị các biến chứng tim mạch giai đoạn hậu phẫu khác nhau tùy theo từng nghiên cứu: theo Lee và cộng sự là 1,4% [95]; Detsky là 5,5% [48] có thể do cách chọn bệnh, tuổi, bệnh lý kèm theo, có yếu tố nguy cơ tim mạch hay không,…Mặt khác, nhờ sự tiến bộ của y học, tuổi thọ con người tăng cao, ngày càng có nhiều người lớn tuổi có nhu cầu phẫu thuật ngoài tim, thì tỉ lệ biến chứng tim mạch hậu phẫu cao hơn. Đồng thời, còn tùy thuộc vào loại phẫu thuật và sự tiến bộ của ngoại khoa, có những phẫu thuật đã không còn sử dụng nữa, có một số phẫu thuật mới ra đời đặc biệt là sự phát triển của phẫu thuật nội soi, do đó tỉ lệ các biến cố rất khác nhau. Sinh lý bệnh của các biến cố tim mạch hậu phẫu 1. Các biến cố tim mạch hậu phẫu nặng Tử vong do tim Trong các nghiên cứu khảo sát nguyên nhân tử vong tại tim giai đoạn hậu phẫu, nhiều tác giả cho là do nhồi máu cơ tim chiếm 66% các trường hợp, kế đến là rối loạn nhịp hoặc suy tim chiếm 34%.

Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào đủ mạnh đáng tin cậy, xác định được nguyên nhân gây tử 6 vong do tim [89], [103]. Nhưng cho dù nguyên nhân không rõ: hoặc do thiếu máu cơ tim cục bộ, rối loạn nhịp hoặc do bệnh cơ tim có sẵn đều làm cho suy tim mà kết quả cuối cùng là tử vong. Ngừng tim Theo Sprung và cộng sự [134] nghiên cứu các nguyên nhân của ngừng tim ở những bệnh nhân phải trải qua phẫu thuật ngoài tim tại một trung tâm, từ năm 1990 đến năm 2000, đánh giá 223 trường hợp ngừng tim giai đoạn chu phẫu xảy ra trong khoảng thời gian từ lúc bắt đầu gây mê cho đến khi bệnh nhân ra khỏi phòng hồi sức, họ đã phát hiện nguyên nhân chính của ngừng tim giai đoạn này là tại tim 44% (ví dụ: nhồi máu cơ tim) và chảy máu là 35%, còn lại 21% là do các nguyên nhân khác. Nhồi máu cơ tim Huyết khối là nguyên nhân cơ bản của đa số các trường hợp nhồi máu cơ tim ngoài phẫu thuật [55], còn sinh lý bệnh tiềm ẩn của nhồi máu cơ tim trong phẫu thuật thì chưa được thiết lập và ít biết rõ ràng.

Những hiểu biết về bệnh học động mạch vành và các dữ liệu về chụp hình mạch máu Có hai nghiên cứu giải phẫu tử thi những trường hợp nhồi máu cơ tim chu phẫu bị tử vong cho thấy hai phần ba số bệnh nhân có tổn thương động mạch vành trái hoặc tổn thương cả 3 nhánh động mạch vành [39], [43]. Nghiên cứu này cũng cho thấy đa số bệnh nhân không có hiện diện mảng xơ vữa và chỉ khoảng một phần ba trường hợp có huyết khối trong lòng động mạch vành. Những phát hiện này gợi ý rằng một tỉ lệ đáng kể nhồi máu cơ tim hậu phẫu tử vong có thể là do tăng nhu cầu ôxy cơ tim trên bệnh nhân đã bị xơ hẹp mạch vành. 7 Ngược lại, một nghiên cứu khác khảo sát những bệnh nhân được chụp mạch vành trước khi phẫu thuật mạch máu, cho thấy phần lớn nhồi máu cơ tim hậu phẫu không tử vong xảy ra trong trường hợp động mạch vành không bị hẹp nhiều.

Phát hiện này gợi ý rằng nhồi máu cơ tim hậu phẫu có thể là do bong, tróc mảng xơ vữa đưa đến thuyên tắc mạch vành cấp [53]. Các nghiên cứu này cung cấp những chứng cứ trái ngược nhau, cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để thiết lập sinh lý bệnh của nhồi máu cơ tim hậu phẫu tử vong và không tử vong. Các yếu tố kích hoạt nhồi máu cơ tim hậu phẫu Phẫu thuật, kết hợp với các sang chấn liên quan với nó như: gây mê, gây tê, đặt nội khí quản, đau đớn, hạ thân nhiệt, chảy máu – thiếu máu và tình trạng ăn kiêng giống như những nghiệm pháp gắng sức thể lực nặng.1 minh họa các yếu tố kích hoạt khởi phát quá trình viêm, tăng đông, stress và tình trạng thiếu ôxy liên quan đến sự gia tăng Troponin ở nhiều cấp độ khác nhau, huyết khối mạch vành và tỉ lệ tử vong trong giai đoạn chu phẫu [130]. Mức độ sang chấn của phẫu thuật và gây mê toàn thân có thể khởi phát tình trạng viêm và tăng đông [127].

Tình trạng viêm liên quan đến sự gia tăng các yếu tố hoại tử u factor-α, interleukin-1 (IL-1), IL-6 và C-reactive-protein; các yếu tố này có thể có một vai trò trực tiếp trong việc khởi đầu làm nứt mảng xơ vữa gây tắc nghẽn động mạch vành cấp [29]. Tình trạng tăng đông liên quan đến sự gia tăng PAI-1, yếu tố VIII và hoạt hóa tiểu cầu, cũng như giảm antithrombin III; tất cả những yếu tố này có thể dẫn đến tắc nghẽn động mạch vành cấp [127], [61]. 8 CÁC YẾU TỐ KÍCH HOẠT  Sang chấn phẫu thuật  Vô cảm/giảm đau  Đặt NKQ/mở khí quản  Đau  Hạ thân nhiệt  Vô cảm/giảm đau  Sang chấn phẫu thuật  Sang chấn phẫu thuật  Chảy máu/thiếu máu  Hạ thân nhiệt  Vô cảm/giảm đau  Vô cảm/giảm đau  Ăn kiêng  Chảy máu/thiếu máu  Tình trạng Tình trạng Tình trạng Tình trạng viêm tăng đông stress thiếu ô xy ↑ TNF-α ↑ PAI-1 ↑ catecholamine ↓ Cung cấp ô xy ↑ IL-1 ↑ yếu tố VIII và cortisol ↑ IL-6 ↑ phản ứng hóa TC ↑ CRP ↓ antithrombin III Tổn thương ↑ Huyết áp Mảng xơ vữa ĐMV do stress ↑ Nhịp tim ↑ A. béo tự do ↑ Thiếu insulin Mảng xơ vữa Tương đối ↑ Nhu cầu ô xy Huyết khối Thiếu máu mạch vành cấp cơ tim NHỒI MÁU CƠ TIM CHU PHẪU Sơ đồ 1.1: Những yếu tố ảnh hưởng đến nhồi máu cơ tim chu phẫu.

TNF-α: tumour necrosis factor-α, IL: interleukin, CRP: C-reactive protein, PAI-1: plasminogen activator inhibitor-1, NKQ: nội khí quản, TC: tiểu cầu, ĐMV: động mạch vành, A: acid). 9 Tình trạng stress liên quan đến sự tăng nồng độ khác nhau của catecholamines (Epinephrine và norepinephrine) và cortisol. Sự tăng nồng độ khác nhau của catecholamine và cortisol giai đoạn chu phẫu liên quan với việc gây mê toàn thân, gây tê vùng, đặt nội khí quản, đau đớn, mức độ sang chấn của phẫu thuật, thiếu máu, ăn kiêng và hạ thân nhiệt. Tăng các hormone do stress đưa đến kết quả là tăng huyết áp, tăng nhịp tim, căng thành mạch vành quá mức, thiếu insulin tương đối và tăng acid béo tự do [117].

Tổn thương động mạch vành do căng thành quá mức có thể gây nứt, gãy, bong tróc mảng xơ vữa và tắc nghẽn động mạch vành cấp tính. Các yếu tố khác làm tăng nhu cầu ôxy và có thể dẫn đến thiếu máu cơ tim cục bộ giai đoạn chu phẫu, điều này liên quan mạnh mẽ với nhồi máu cơ tim chu phẫu [92]. Các nhân tố có thể khởi phát tình trạng thiếu ôxy bao gồm: thiếu máu, hạ thân nhiệt (gây run), vô cảm, giảm đau (ức chế hô hấp). Thiếu máu chu phẫu có thể dẫn đến thiếu máu cục bộ cơ tim trong tình trạng động mạch vành đã hẹp đáng kể [64].2 Các yếu tố nguy cơ tim mạch tiền phẫu 1.

Bệnh mạch vành 1. Bệnh nhân có tiền căn bệnh mạch vành Ở một số bệnh nhân, ví dụ như những người đã từng bị nhồi máu cơ tim cấp, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, nong mạch vành, hoặc chụp hình mạch vành cho thấy có mảng xơ vữa hoặc bất thường lòng động mạch vành thì sự hiện diện của bệnh mạch vành được biết rõ ràng. Nhưng còn nhiều bệnh nhân không có triệu chứng tim mạch mà có thể có tổn thương hai hoặc ba nhánh động mạch vành. Cần có các xét nghiệm không xâm lấn để cung cấp bằng chứng về tưới máu mạch vành trước khi phẫu thuật ngoài tim [58].

Ảnh hưởng của tuổi tác và giới tính lên bệnh mạch vành Lớn tuổi là một nguy cơ đặc biệt, không chỉ vì gia tăng khả năng bị bệnh mạch vành mà còn vì những ảnh hưởng của lão hóa trên tế bào cơ tim. Nhồi máu cơ tim lúc mổ hoặc hậu phẫu có một tỉ lệ tử vong cao hơn trong độ tuổi già [52]. Giới tính là quan trọng bởi vì phụ nữ trước mãn kinh có một tỉ lệ mắc bệnh mạch vành thấp hơn và nhìn chung triệu chứng bệnh mạch vành xảy ra ở phụ nữ trễ hơn ở nam giới trên 10 năm [47]. Phụ nữ bị đái tháo đường có nguy cơ mắc bệnh mạch vành tương đương với nam giới cùng tuổi [25].

Tăng huyết áp Nhiều nghiên cứu [19], [119], đã chỉ ra rằng tăng huyết áp giai đoạn 1 và giai đoạn 2 (huyết áp tâm thu dưới 180 mmHg và huyết áp tâm trương dưới 110 mmHg) không được xem là yếu tố nguy cơ độc lập cho biến chứng tim mạch chu phẫu. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết: tăng huyết áp là bệnh phổ biến và việc kiểm soát huyết áp làm giảm tỉ lệ tử vong do đột quỵ và bệnh mạch vành trong các trường hợp không phẫu thuật. Ngoài ra, tăng huyết áp nặng có vai trò như là một dấu hiệu hữu ích chỉ điểm cho bệnh mạch vành tiềm ẩn [37]. Suy tim Suy tim đã được xác định trong nhiều nghiên cứu là đưa đến biến cố tim mạch xấu hơn khi thực hiện phẫu thuật ngoài tim.

Trong một nghiên cứu của Goldman [72] cho thấy rằng: sự hiện diện của tiếng tim T3 và/hoặc các dấu hiệu khác của suy tim, đều có mối liên quan với sự gia tăng nguy cơ đáng kể trong phẫu thuật ngoài tim; Detsky và cộng sự [48] xác định phù phổi như là một yếu tố nguy cơ quan trọng; và trong báo cáo của Cooperman cùng đồng nghiệp [40] suy tim cũng là một yếu tố nguy cơ đáng kể; Lee và cộng sự cũng xác định suy tim là một yếu tố tiên đoán nguy cơ độc lập [95]. Bệnh cơ tim Bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn gây ra các vấn đề đặc biệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu giá trị tiên đoán biến cố tim mạch sau phẫu thuật ngoài tim qua NT-proBNP và hsCRP là một tài liệu quan trọng trong lĩnh vực y học tim mạch, tập trung vào việc đánh giá vai trò của hai chỉ số sinh học NT-proBNP và hsCRP trong dự đoán các biến cố tim mạch sau phẫu thuật ngoài tim. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về cách các chỉ số này có thể giúp bác sĩ đưa ra quyết định lâm sàng chính xác hơn, từ đó cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các chuyên gia y tế và nhà nghiên cứu quan tâm đến việc tối ưu hóa chăm sóc hậu phẫu tim mạch.

Để mở rộng kiến thức về các chỉ số sinh học và ứng dụng trong tim mạch, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu chỉ số tương hợp tâm thất động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, một tài liệu chuyên sâu về mối liên hệ giữa các chỉ số tim mạch và bệnh tăng huyết áp.