Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về ruộng bậc thang 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Ruộng bậc thang Ruộng bậc thang là một hình thức canh tác trên đất dốc của nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới.
Ruộng bậc thang là những thửa ruộng được san lấp thành các vạt đất có cùng độ dốc theo đường đồng mức, tiếp nối nhau từ trên xuống theo kiểu bậc thang (Nguyễn Thế Đặng và cs. Ruộng bậc thang được phân thành các loại ruộng bậc thang khác nhau dựa vào hệ thống thủy lợi và độ cao của ruộng. Đối với ruộng bậc thang có hệ thống thủy lợi thuận tiện, có hệ thống mương máng dẫn nước bao quanh có thể canh tác liên tục, được gọi là ruộng bậc thang thâm canh 2 vụ. Những thửa ruộng loại này thông thường xuất hiện tại các địa hình như thung lũng có độ dốc hay tại dọc theo những con suối có nước chảy quanh năm.
Ngoài ra, ruộng bậc thang còn được chia theo độ cao, từ khoảng 30o trở lên là ruộng bậc thang cao, loại ruộng này chủ yếu phân bố trên các địa hình đất dốc như trên sườn núi, sườn đồi. Ruộng bậc thang có độ dốc từ 30o trở xuống được coi là ruộng bậc thang thấp, loại ruộng này thường phân bố tại các thung lũng có độ dốc thấp (Nguyễn Xuân Trường, 2012). Di sản, di tích - Di sản: Theo Điều 4, Luật Di sản văn hóa (2001) quy định: + Di sản văn hoá phi vật thể: Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. 5 + Di sản văn hoá vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
- Di tích: Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử. Nói cách khác, di tích là cái của thời xưa còn để lại (Từ điển tiếng Việt, 1997). Di tích lịch sử, Văn hoá phải có một trong các tiêu chí sau đây: + Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. + Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước.
+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. + Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ. + Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Danh lam thắng cảnh Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học (Luật Di sản văn hóa, 2001).
Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây: - Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu. - Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng nhũng dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất. Danh lam thắng cảnh được chia thành: - Ở mỗi quốc gia, cùng với những di tích lịch sử - văn hóa, không nhiều thì ít, còn những giá trị văn hóa do thiên nhiên ban tặng, đó là các danh lam thắng cảnh. 6 - Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất.
Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như vịnh Hạ Long, cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam. Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3,3% số di tích được xếp hạng. - Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu. - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến.
Phát triển bền vững Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ Môi trường, 2014). Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa. Riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó. Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 bởi Báo cáo Brundtland: Phát triển bền vững là "Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội. Phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: Kinh tế - xã hội - môi trường (WCED, 1987).
Quy hoạch bảo vệ môi trường Quy hoạch bảo vệ môi trường là việc phân vùng môi trường để bảo tồn, phát triển và thiết lập hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường gắn với hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường trong sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nhằm bảo đảm phát triển bền vững (Luật Bảo vệ Môi trường, 2014). Trong đó có Hệ sinh thái nhân văn (Human ecosystem), là tổng hòa của hai hệ thống, hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội trong sự tương tác lẫn nhau ở một khu vực nhất định. Theo đó, hình thành một khoa học liên ngành - Sinh thái học nhân văn và các chuyên ngành của nó (Sinh thái học chính trị; Sinh thái học xã hội…). Quy hoạch bảo vệ môi trường cũng có mối liên hệ chặt chẽ với Hệ sinh thái xã hội (Socio-Ecological system) Là một biến thể của hệ sinh thái nhân văn, nhấn mạnh yếu tố thể chế và được định nghĩa khái quát là một hệ gồm cả con người và tự nhiên, một đơn vị Sinh - Vật lư - Địa và các yếu tố xã hội, thể chế kèm theo, ở đây chính là những con người đang sinh sống và lao động tại Hoàng Su Phì cùng với ruộng bậc thang.
Hệ sinh thái - xã hội là hệ thống phức tạp nhất, tùy theo góc độ và phạm vi nghiên cứu mà các đặc trưng khác nhau được nhấn mạnh. Cộng đồng các dân tộc thiểu số đang trực tiếp tham gia lao động sản xuất trên khu vực ruộng bậc thang là nhóm người chính có những đặc điểm thái độ, cách ứng xử, tập quán sinh hoạt và ước muốn tương đối giống nhau, cùng sống. Giá trị môi trường Giá trị môi trường được xem là một loại tài sản đa hợp, có thể cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội của con người. Đồng thời, môi trường cũng là nơi tiếp nhận rác thải từ các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của con người.
Giá trị môi trường bao gồm (Hoàng Văn Long, 2017): - Giá trị định lượng: Chủ yếu là giá trị vật thể, có thể đo đếm được như tài nguyên đất đai, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân tạo…. - Giá trị định tính: Là những giá trị phi vật thể, không đo đếm được như cảnh quan môi trường, giá trị văn hóa…. Giá trị môi trường được đánh giá về giá trị sử dụng nhờ vào các thuộc tính vật lý, hoá học, sinh học vốn có của nó (tính chất vật chất của đất, nước, không 8 khí .) đã thoả mãn rất nhiều nhu cầu của con người, do đó việc tiêu dùng chất lượng môi trường là điều không thể thiếu trong đời sống xã hội. Giá trị môi trường được đánh giá như một hàng hóa: Chất lượng môi trường được xác định bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nó, nó kết tinh cả lao động cụ thể và lao động trừu tượng: lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng chất lượng môi trường, phải có hao phí sức lực của con người mới có chất lượng môi trường mong muốn.
Giá trị hàng hoá chất lượng môi trường được quyết định bởi lao động trừu tượng (chất lượng lao động, hao phí thời gian, lao động trí tuệ). Vậy chất giá trị hàng hoá chất lượng môi trường là lao động trừu tượng. Về lượng giá trị hàng hoá chất lượng môi trường được đo bằng lượng thời gian lao động xã hội cần thiết và nó được lượng hoá theo quy tắc: nó tỷ lệ thuận với số lượng lao động và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động (Hoàng Văn Long, 2017). Trong nghiên cứu đánh giá giá trị môi trường cho các khu bảo tồn, thường phân chia giá trị môi trường thành 6 nhóm (Đỗ Anh Tài, 2008): - Nhóm 1: Di sản; - Nhóm 2: Sinh kế; - Nhóm 3: Du lịch; - Nhóm 4: Văn hóa sinh thái; - Nhóm 5: Trải nghiệm; - Nhóm 6: Giá trị đầu tư.
Môi trường đất và ô nhiễm môi trường đất 1.