CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA ĐỀ TÀI 1. Các văn bản của Nhà nước - Luật Đất đai 2003. - Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về việc bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. - Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về việc bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. - Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá và khung giá các loại đất. - Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của chính phủ về phương pháp xác định giá và khung giá các loại đất.
- Căn cứ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về việc quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; - Căn cứ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. - Căn cứ Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/9/2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. n 5 - Thông tư số 14/TT-BTNMT ngày 1/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất cho thuê đất. - Nghị định số: 123/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 188/2004/NĐ-CP; - Thông tư số: 145/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số: 188/2004/NĐ-CP và Nghị định số: 123/2007/NĐ-CP; - Thông tư liên tịch số: 02/2010/TTLT-BTNMT-BTC ngày 08/01/2010, của Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bộ Tài chính, hướng dẫn xây dựng, thẩm định, ban hành bảng giá đất và điều chỉnh bảng giá đất thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Các văn bản của tỉnh Thái Nguyên - Quyết định số 2044/2005/QĐ-UBND ngày 30/9/2005 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. - Quyết định số: 498/2007/QĐ-UBND ngày 23 tháng 3 năm 2007 của UBND tỉnh Thái Nguyên, về việc ban hành quy trình xác định giá đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; - Quyết định số 72/2008/QĐ-UBND ngày 29/12/2008 của UBND tỉnh Thái Nguyên quy định tổng thể giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. - Quyết định số 37/2009/QĐ-UBND ngày 29/12/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên quy định tổng thể giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. - Quyết định số 47/2010/QĐ-UBND ngày 22/12/2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên quy định tổng thể giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
n 6 - Quyết định số 01/2010/QĐ-UBND ngày 05 tháng 01năm 2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Giá đất tính bồi thường 1. Nguyên tắc định giá đất Nguyên tắc là phạm trù quy định hành vi để thực hiện công việc trong một điều kiện, môi trường nhất định.
Nguyên tắc đặt ra để khi chúng ta thực hiện không đi nhầm định hướng. Trong khi thực hiện không được tách rời các nguyên tắc mà nên kết hợp xem xét nhiều nguyên tắc. Khi xem xét vận dụng nguyên tắc ta phải đặt nó trong một hoàn cảnh nhất định, cụ thể gắn với không gian, thời gian và nhìn nó trong một quan điểm phát triển. Có nhiều nguyên tắc định giá đất nhưng người ta thường sử dụng 3 nguyên tắc cơ bản chính để định giá đất: a) Nguyên tắc sử dụng cao nhất và sử dụng tốt nhất - Sử dụng cao nhất và sử dụng tốt nhất trên cơ sở mảnh đất đó mang lại hiệu quả quả kinh tế cao nhất, được thể hiện: + Thu nhập là cao nhất + Giá trị sản phẩm làm ra cao nhất + Thu hút lao động Hiệu quả kinh tế tính trong thời gian dài được xác định khi ước tính giá trị đất đai.
Nó thoả mãn nhu cầu của người sử dụng đất về vật chất và pháp luật. - Đúng quy định của pháp luật về tình trạng pháp lý, kích thước sử dụng, thời gian sử dụng đất. - Sử dụng cao nhất và sử dụng tốt nhất không chỉ được hiểu ở khả năng sinh lợi đơn thuần mà còn các lợi ích khác không thể lý hoá bằng tiền. Nhưng n 7 các lợi ích không thể lý hoá bằng tiền không được quyết định bởi người định giá.
Mà nó thể hiện tổng thể khi đánh giá dự án. Luôn luôn đặt nó trong điều kiện được sử dụng cao nhất và tốt nhất, lợi ích xã hội cao nhất (vận dụng cho các nhà đầu tư). b) Nguyên tắc dự báo trước Tại sao phải dự báo trước? Vì luôn chuyển hoá mục đích sử dụng đất và do kinh tế phát triển cho nên các điều kiện tác động đến giá đất thay đổi ( vị trí, kết cấu hạ tầng, quy hoạch …). - Luôn gắn với quy hoạch và quy định của pháp luật.
c) Nguyên tắc cung – cầu Trước hết ta hiểu rằng cầu trong thị trường bất động sản là số lượng bất động sản (gồm đất và tài sản gắn liền với đất) tại một thời điểm nhất định mà người tiêu dùng sẵn sàng chấp nhận và có khả năng thanh toán. Nguyên tắc này cho rằng: Giá thị trường được xác định bằng sự tương tác của cung và cầu. Khi lượng cung tăng lên mà lượng cầu không tăng hoặc giảm thì giá thị trường sẽ giảm, khi lượng cung giảm mà lượng cầu không giảm hoặc tăng thì giá thị trường sẽ tăng lên; Khi lượng cung và lượng cầu cùng tăng hoặc cùng giảm thì giá sẽ tăng hoặc giảm tuỳ theo tốc độ tăng, giảm của cung và cầu, giá tăng khi tốc độ tăng của cầu lớn hơn cung và ngược lại. Giá đất là công cụ quan trọng để quản lý đất đai trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Tại Điều 12 Luật Đất đai năm 1993 công nhận đất “có giá’’. Lần đầu tiên đất được coi là “có giá” làm thay đổi hẳn quan niệm cũ đã ngự trị trong suốt mấy chục năm của quá trình dài thời bao cấp, coi đất là của “trời cho” không có giá (nhất là đất nông nghiệp, lâm nghiệp). Xác định đất “có giá” bước đầu đã đề cập đến “tính chất kinh tế” của đất đai. Trong nền kinh tế thị trường, đất đai được coi là tài sản - bất động sản - n 8 hàng hoá đặc biệt nên nó cũng có những đặc điểm chung của hàng hoá như: giá trị, giá trị sử dụng, giá cả và cũng được trao đổi trên thị trường dưới nhiều hình thức chuyển nhượng.
Khi đó, đất đai trở thành “hàng hoá đất”. Giá trị của hàng hoá đất được thể hiện ở mặt khả năng sinh lợi của đất và tính sở hữu. Nhìn một cách xuyên suốt về chính sách đất đai thì càng ngày Nhà nước càng trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất và đất đã có giá. Mặt khác, tại Điều 12 Luật Đất đai năm 1993 quy định “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất.
Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian” [5]. Điều 55, 56 Luật Đất đai 2003 qui định. Phương pháp định giá đất Có nhiều phương pháp để xác định giá của một thửa đất như: - Phương pháp so sánh trực tiếp (còn gọi là phương pháp thị trường) - Phương pháp đầu tư - Phương pháp chi phí - Phương pháp thu nhập - Phương pháp thặng dư Nhưng trên thực tế thường sử dụng hai phương pháp là: Phương pháp so sánh trực tiếp (còn gọi là phương pháp thị trường) và Phương pháp thu nhập. a) Phương pháp so sánh trực tiếp (phương pháp thị trường) Là phương pháp xác định mức giá thông qua việc tiến hành phân tích các mức giá đất thực tế đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường của loại đất tương tự (về loại đất, diện tích đất, thửa đất, hạng đất, loại đô thị, loại đường phố và vị trí) để so sánh, xác định giá của thửa đất, loại đất cần định giá.
Việc định giá đất theo phương pháp so sánh trực tiếp phải tiến hành các bước sau đây: * Bước 1: Khảo sát và thu thập thông tin: - Xác định địa điểm của thửa đất, khu đất so sánh được với thửa đất, khu n 9 đất cần định giá để thu thập thông tin. Lựa chọn từ 3 đến 5 thửa đất, khu đất tương đồng với nhau về loại đất, diện tích đất, kết cấu hạ tầng, cơ sở pháp lý ở liền kề hoặc ở khu vực lân cận với thửa đất, khu đất cần định giá và đều có các điều kiện tương tự, so sánh được với thửa đất, khu đất cần định giá đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hoặc tổ chức giao dịch trên sàn giao dịch bất động sản, tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất thành công để thu thập thông tin cần thiết. - Thời gian thu thập thông tin: Những thông tin cần thu thập phải diễn ra trong khoảng thời gian gần nhất với thời điểm khảo sát để so sánh, xác định giá của thửa đất hoặc khu đất cần định giá. Trường hợp không thu thập được những thông tin trong khoảng thời gian gần nhất, thì có thể thu thập thông tin về các cuộc giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thời hạn 01 năm tính đến thời điểm định giá đất.
Nếu không có những thông tin về các cuộc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thời gian gần nhất hoặc trong thời gian 01 năm để thu thập, thì thu thập thông tin trong thời gian 03 năm tính đến thời điểm định giá đất.