đặt vấn đề xác định MTD trong máu và nước tiểu bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC-MS) với các mục tiêu sau: 1. Xây dựng phương pháp xác định MTD trong máu và nước tiểu bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ. Ứng dụng phương pháp trong phân tích các mẫu thực tế. Tổng quan về methadon 1.
Nguồn gốc MTD được nghiên cứu vào đầu những năm 1930 tại phòng thí nghiệm của Hoechst AG bởi hai nhà khoa học người Đức là Gustav Ehrhart và Max Bockmuhl. Mặc dù được tổng hợp vào những năm 1930, nhưng MTD lần đầu tiên được FDA Hoa Kỳ chấp thuận vào năm 1947 dưới dạng thuốc giảm đau với tên thương mại là “Dolophine” [16]. Tuy nhiên, sau đó, các nhà nghiên cứu nhận ra khả năng gây nghiện của loại thuốc này và việc sử dụng MTD làm thuốc giảm đau không còn được ưa chuộng nữa. Lần đầu tiên vào năm 1964 tại NewYork, Hoa Kỳ, bác sĩ Marie Nyswander và Vincent Dole đã sử dụng thuốc MTD để điều trị cho người nghiện opioids [22].
Kể từ đó, MTD được biết đến nhiều nhất với công dụng điều trị cho người nghiện opioids. Ngày nay, thuốc MTD đã được áp dụng điều trị nghiện opioids tại hơn 70 quốc gia trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc, Indonesia,…[35]. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu điều trị thay thế nghiện opioids bằng MTD đã được bắt đầu từ năm 1996 và đến năm 2008 đã triển khai điều trị cho người nghiện opioids bằng thuốc MTD tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó ngày càng mở rộng ra các tỉnh, thành phố trong cả nước [3].
MTD có trong danh mục các chất ma tuý của Công ước quốc tế năm 1961 về kiểm soát ma tuý của Liên hợp quốc [34], đồng thời thuộc danh mục II Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ [7]. Đến năm 2005, MTD được Tổ chức Y tế thế giới đưa vào danh mục thuốc thiết yếu [21]. Công thức và danh pháp MTD thường gặp dưới 2 dạng là dạng base và dạng muối hydroclorid. MTD chứa một nguyên tử carbon bất đối C6 và tồn tại ở hai dạng đối hình: (S)-(+)-methadon và (R)-(-)-methadon [2].
❖ Methadon - Công thức cấu tạo Hình 1. Công thức cấu tạo của methadon 2 - Tên khoa học: 6-dimethylamino-4,4-diphenylheptan-3-on - Công thức phân tử: C21H27NO - Khối lượng phân tử: 309,445 - pKa: 9,2 - Dạng tinh thể màu trắng, vị đắng. Tan nhiều trong ethanol, tan trong ether và glycerol, rất ít tan trong nước. - Điểm nóng chảy : 235°C ❖ Methadon hydrochlorid - Công thức cấu tạo Hình 1.
Công thức cấu tạo của methadon hydrochlorid - Tên khoa học: 6-dimethylamino-4,4-diphenylheptan-3-on hydroclorid - Công thức phân tử: C21H27NO.HCl - Khối lượng phân tử: 345,91. - pKa: 8,25 - Methadon hydrochlorid dạng bột kết tinh trắng hoặc gần như trắng. Tan trong nước, dễ tan trong ethanol 96 %, không tan trong ether. - Methadon hydrochlorid có điểm nóng chảy từ 233°C đến 236°C.
Dược động học Dược động học của MTD rất khác nhau ở mỗi người, do đó, sau khi dùng cùng một liều lượng, nồng độ thu được sẽ khác nhau đáng kể ở những đối tượng khác nhau. Đường dùng: MTD thường được dùng dưới dạng muối hydrochlorid. Có các dạng bào chế khác nhau dùng cho đường uống, dưới da,… a. Hấp thu MTD có sinh khả dụng qua đường uống hơn 80%, so với 26% của morphin, nhưng sự khác biệt giữa các cá nhân dao động từ 41% đến 95%.
Sau khi uống, thuốc được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa, với nồng độ có thể đo được trong huyết tương sau khi uống 30 phút, nhưng tác dụng cao nhất và nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau khoảng 3-4 giờ, duy trì trong khoảng 1-6 giờ [28]. Thời gian đạt nồng độ ổn định trong máu khoảng 3-5 ngày sau mỗi lần thay đổi liều điều trị [9]. Phân bố 3 MTD là thuốc thân lipid, MTD liên kết cao với protein huyết tương, đặc biệt là với glycoprotein axit alpha-1 (85%-90%), MTD cũng liên kết với albumin, các protein mô và huyết tương khác bao gồm cả lipoprotein. Phần còn lại ở dạng tự do, tỷ lệ tự do trung bình của MTD là khoảng 13%.
Sự gia tăng nồng độ glycoprotein axit alpha-1 trong huyết tương có thể làm thay đổi tỷ lệ thuốc không liên kết (tức là dạng tự do) và thuốc liên kết, dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ thuốc liên kết với sự giảm nồng độ thuốc tự do tương ứng. Sự thay đổi này có ý nghĩa lâm sàng đối với các loại thuốc có liên kết cao như MTD. Trong trường hợp MTD, nồng độ thuốc tự do giảm sẽ gây ra các triệu chứng cai (thở nhanh, vã mồ hôi, ngáp, thèm ma túy,…) và cần phải điều chỉnh liều. Khi MTD được giải phóng vào và lưu thông trong máu, MTD phân bố rộng rãi đến các mô như não, gan, thận, phổi và cơ,….
Do tính thân lipid, MTD có thể tồn tại lâu trong gan và các mô khác. MTD cũng qua được nhau thai và phân bố vào trong sữa mẹ [19] [23]. Chuyển hoá MTD được chuyển hóa chủ yếu ở gan nhờ enzyme cytochrome P450 (CYP), chủ yếu là CYP2B6, tiếp theo là CYP3A4, 2C19, 2D6 và ở mức độ thấp hơn là CYP2C18, 3A7, 2C8, 2C9, 3A5 và 1A2. MTD chủ yếu tạo thành các chất chuyển hóa pyrrolidin không có hoạt tính dược lý là 2-ethyliden-1,5-dimethyl-3,3-diphenylpyrrolidin (EDDP) và 2-ethyl-5-methyl-3,3-diphenylpyrrolin (EMDP).
Trong đó CYP2C19, 3A7 và 2C8 ưu tiên chuyển hóa (R)-methadon, CYP2B6, 2D6 và 2C18 chủ yếu chuyển hóa (S)- methadon [37] [15]. Sơ đồ quá trình chuyển hoá methadon Quá trình chuyển hoá MTD kết hợp hai quá trình N-demethyl hóa và quá trình vòng hóa của MTD. MTD được N-demethyl hóa thành một hợp chất trung gian là normethadon, sau đó là quá trình vòng hoá để tạo thành EDDP. Phản ứng N-demethyl hóa thứ hai xảy ra trên EDDP để tạo thành EMDP có thời gian bán hủy nằm trong khoảng từ 39,8 giờ đến 48 giờ.
Hai chất chuyển hóa này tiếp tục được chuyển hóa thành sản phẩm hydroxypyrrolidinic bằng quá trình hydroxyl hóa vòng thơm. 4 Một con đường khác trong quá trình hình thành EMDP là quá trình khử N- demethadon qua trung gian CYP của normethadon để tạo thành dinormethadon, sau đó được chuyển hóa thành EMDP [11] [17]. Thải trừ Sự bài tiết MTD sau khi chuyển hóa sinh học thường xảy ra thông qua quá trình đào thải qua thận và phân. Khoảng 20% đến 50% MTD được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng MTD hoặc chất chuyển hóa của MTD và 10% đến 45% được bài tiết qua phân dưới dạng chất chuyển hóa pyrrolidin [29].
MTD được bài tiết qua quá trình lọc ở cầu thận, được tái hấp thu ở ống thận. Thời gian bán hủy dao động trong khoảng từ 13 đến 47 giờ với trung bình là 25 giờ [28]. MTD là bazơ yếu dẫn đến sự bài tiết qua thận phụ thuộc vào pH nước tiểu. Nước tiểu có tính axit làm tăng bài tiết MTD (khoảng 35%) và giảm dần khi pH nước tiểu tăng.
MTD đi qua hàng rào nhau thai và bài tiết qua sữa. MTD cũng được bài tiết qua nước bọt và mồ hôi [25]. Dược lực học MTD là một opioid tổng hợp hoạt động như một chất chủ vận hoàn toàn ở thụ thể μ-opioid, các thụ thể này chủ yếu ở thần kinh trung ương. MTD kích hoạt các thụ thể μ giúp loại bỏ các triệu chứng cai và giảm cảm giác thèm ma túy [31] [35] [37].
Hơn nữa, MTD là một chất đối kháng không cạnh tranh với thụ thể N-methyl-d- aspartate, MTD chất ức chế tái hấp thu serotonin và norepinephrin trong hệ thần kinh trung ương giảm sự nhạy cảm của thần kinh trung ương với các kích thích gây đau dẫn đến giảm hiện tượng tăng cảm giác đau và giảm cường độ đau, tăng khả năng nâng cao hiệu quả trong việc kiểm soát cơn đau thần kinh [18] [27] [31]. Tác dụng dược lý và độc tính a. Tác dụng dược lý: MTD là dẫn chất tổng hợp của diphenylheptan chủ vận thụ thể µ-opioid, có tác dụng dược lý tương tự morphin như giảm đau, giảm ho, cầm tiêu chảy, gây lệ thuộc thuốc nhưng gây khoái cảm yếu. MTD làm giảm hội chứng cai opioids, giảm lệ thuộc vào opioids nên được dùng để cắt cơn nghiện và xử trí phụ thuộc opioids, có thời gian bán huỷ dài hơn nên chỉ cần sử dụng một lần trong ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai.
MTD cũng được áp dụng để điều trị giảm đau, ở liều giảm đau ngang nhau, MTD có thể gây ra ức chế hô hấp tương tự hoặc cao hơn morphin, MTD ít gây táo bón hơn morphin [38] [39]. Độc tính : Việc sử dụng MTD thường xuyên liên quan đến sự tăng khả năng dung nạp. Khi đó, phải dùng liều lượng thuốc lớn hơn để đạt được hiệu quả tương tự. Vì vậy liều dùng sẽ phụ thuộc vào từng đối tượng.
Liều dùng và lượng MTD gây quá liều phụ thuộc vào 5 nhiều yếu tố. Yếu tố lớn nhất là đã từng sử dụng MTD hoặc opioids chưa. Liều dùng dao động từ 20-100mg. Các quy định hiện hành ở Hoa Kỳ không khuyến cáo sử dụng liều MTD lớn hơn 100 mg/ngày.
Đối với người lớn chưa sử dụng opioids, liều gây độc có thể chỉ ở mức 30-50 mg. Liều gây độc cho trẻ có thể chỉ là 10 mg. Trong khi đó đối với những người nghiện opioids, có thể dùng liều hơn 100 mg mỗi ngày mà không có bất kỳ tác dụng phụ nào rõ rệt. Nồng độ trong máu sau khi dùng MTD dao động từ 30- 750 ng/ml, ngưỡng nồng độ gây độc dao động từ 240-1000 ng/ml tuỳ từng đối tượng.
Nồng độ trong nước tiểu từ 100-13250ng/ml khi dùng liều từ 20mg-200mg [24]. Ở những bệnh nhân sử dụng MTD để điều trị cai nghiện, nếu ngừng thuốc đột ngột ở người bệnh điều trị dài hạn, có thể xuất hiện hội chứng cai thuốc hoặc co giật, vì vậy cần giảm liều từ từ. Tác dụng độc khi dùng quá liều chủ yếu là giảm tần số và biên độ thở, có thể tiến triển đến ngưng thở. Các biến chứng khác (ví dụ phù phổi, thường phát triển trong vài phút đến vài giờ sau khi dùng quá liều) và tử vong chủ yếu do tình trạng thiếu oxy.
Đồng tử co nhỏ, mê sảng, tụt huyết áp, nhịp tim chậm, hạ nhiệt cơ thể, và bí tiểu có thể xảy ra. Bệnh nhân được điều trị bằng naloxone nếu nghi ngờ quá liều [38] [39]. Chất chuẩn nội Vì mẫu phân tích là dịch sinh học có nền mẫu phức tạp, nồng độ chất phân tích nhỏ, quá trình xử lý mẫu có thể làm mất mẫu, ảnh hưởng tới độ lặp lại của phép phân tích nên để hạn chế sự dao động này cũng như những dao động nhỏ của hệ thống sắc kí, việc sử dụng chất chuần nội là cần thiết.