Luận án tiến sĩ khoa học nghiên cứu động thái và khả năng di chuyển của một số kim loại nặng cu pb zn trong đất lúa sử dụng nước tưới từ sông nhuệ khu vực thanh trì hà nội

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu động thái và khả năng di chuyển của một số kim loại nặng cu pb zn trong đất lúa sử, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

72
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kim loại nặng trong đất

Nghiên cứu về kim loại nặng trong đất lúa tại Thanh Trì, Hà Nội cho thấy nguồn gốc của kim loại nặng chủ yếu đến từ hoạt động nhân sinh. Các hoạt động công nghiệp và nông nghiệp đã làm gia tăng đáng kể hàm lượng kim loại nặng trong môi trường đất. Theo nghiên cứu của Campbell và cộng sự (1983), hàm lượng kim loại nặng do con người tạo ra lớn hơn nhiều lần so với nguồn gốc tự nhiên. Điều này cho thấy sự cần thiết phải đánh giá và quản lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất, đặc biệt là trong bối cảnh nông nghiệp sử dụng nước tưới từ sông Nhuệ. Các yếu tố như pH, Eh, và thành phần đất có ảnh hưởng lớn đến sự di chuyển và tích lũy của kim loại nặng trong đất.

1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của kim loại nặng

Nguồn gốc của kim loại nặng trong đất chủ yếu đến từ quá trình phong hóa khoáng vật và hoạt động nhân sinh. Các nghiên cứu cho thấy rằng hàm lượng kim loại nặng trong đất có thể tăng lên do sự lắng đọng từ khí quyển và các hoạt động công nghiệp. Sự phân bố của kim loại nặng trong đất không đồng đều và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như địa hình, thủy văn và các điều kiện môi trường khác. Việc hiểu rõ nguồn gốc và sự phân bố của kim loại nặng là rất quan trọng để đánh giá tác động của chúng đến môi trường và sức khỏe con người.

II. Đặc điểm của đất trồng lúa nước

Đất trồng lúa nước có những đặc điểm riêng biệt, ảnh hưởng đến sự di chuyển và tích lũy của kim loại nặng. Quá trình ngập nước trong đất lúa làm giảm sự trao đổi khí và tạo ra môi trường khử, điều này có thể làm thay đổi tính chất của đất và ảnh hưởng đến sự di chuyển của kim loại nặng. Các yếu tố như độ pH, hàm lượng chất hữu cơ và các ion cạnh tranh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng di chuyển của kim loại nặng. Nghiên cứu cho thấy rằng sự tích lũy của kim loại nặng trong đất lúa có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến chất lượng nông sản và sức khỏe con người.

2.1 Tác động của điều kiện môi trường đến kim loại nặng

Điều kiện môi trường như pH, Eh, và hàm lượng chất hữu cơ có ảnh hưởng lớn đến sự di chuyển và tích lũy của kim loại nặng trong đất lúa. Nghiên cứu cho thấy rằng pH thấp có thể làm tăng tính tan của kim loại nặng, trong khi điều kiện khử có thể làm giảm khả năng di chuyển của chúng. Các ion cạnh tranh như Ca2+ và Mg2+ cũng có thể ảnh hưởng đến sự hấp thụ và di chuyển của kim loại nặng trong đất. Việc hiểu rõ các yếu tố này là cần thiết để quản lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất lúa.

III. Mô hình mô phỏng sự di chuyển của kim loại nặng

Mô hình mô phỏng sự di chuyển của kim loại nặng trong đất lúa là một công cụ hữu ích để dự đoán và đánh giá tác động của chúng đến môi trường. Mô hình này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự di chuyển của kim loại nặng, từ đó đưa ra các biện pháp quản lý hiệu quả. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự di chuyển của kim loại nặng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ ẩm, cấu trúc đất và các điều kiện môi trường khác. Việc áp dụng mô hình này có thể giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn trong việc sử dụng nước tưới và quản lý đất.

3.1 Phương pháp mô phỏng

Phương pháp mô phỏng sự di chuyển của kim loại nặng trong đất được thực hiện thông qua việc sử dụng các mô hình toán học. Các mô hình này dựa trên các yếu tố như độ ẩm, pH, và các ion cạnh tranh để dự đoán sự di chuyển của kim loại nặng. Kết quả từ mô hình cho thấy rằng sự di chuyển của kim loại nặng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, và việc hiểu rõ các yếu tố này là rất quan trọng để quản lý ô nhiễm trong đất lúa.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay ô nhiễm kim loa ̣i nă ̣ng (KLN) trong môi trƣờng đấ t do tác nhân nhân sinh đã trở thành vấn đề môi trƣờng đáng báo động. Hiện trạng này ngày càng tăng không những đe dọa tới sản xuất nông nghiệp và chất lƣợng nông sản , mà còn ảnh hƣởng gián tiếp tới sức khoẻ con ngƣời và động vật thông qua chuỗi thƣ́c ăn. Sƣ̣ gia tăng dân số , các nhà máy công sở , các khu vui chơi giải trí , các dịch vụ xã hội trong quá trình đô thị hóa làm cho lƣợng nƣớc thải tăng lên rất nhanh tại các đô thị đặc biệt là các đô thị lớn.

Cơ sở ha ̣ tầ ng về thoát nƣớc ta ̣i hầ u hế t các đô thi ̣ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay đang bi ̣xuố ng cấ p , bị lấn chiế m cùng với lƣơ ̣ng nƣớc thải gia tăng dẫn tới tin ̀ h tra ̣ng quá tải hê ̣ thố ng thoát nƣớc và nguy cơ ô nhiễm môi trƣờng do nƣớc thải. Sƣ̣ ô nhiễm này không chỉ ảnh hƣởng trƣ̣c tiế p đế n môi trƣờng ta ̣i các đô thi ̣mà còn ảnh hƣởng lớn đế n vùng ven đô nơi tiế p nhâ ̣n nguồ n nƣớc này. Ngày nay tại các vùng ven đô này , do tin ̀ h tra ̣ng khan hiế m nguồ n nƣớc tƣới nên ngƣời ta thƣờng tái s ử dụng nƣớc thải làm nƣớc tƣới cho canh tác nông nghiệp. Viê ̣c tái sử dụng nƣớc thải làm nƣớc tƣới đã mang l ại cả tác dụng có lợi và có ha ̣i , đó là tận dụng đƣợc nguồn dinh dƣỡng trong nƣớc thải tuy nhiên trong nguồn nƣớc thải này có chứa rất nhiều nhân tố gây ha ̣i nhƣ KLN , các chất hữu cơ độc hại khó phân hủy, các loại vi trùng gây bệnh, v.có hại cho sƣ́c khỏe con ngƣ ời.

Những chất độc hại trên mô ̣t phầ n sẽ tích lũy trên cây lƣơng thƣ̣c , rau quả và s ẽ để lại hậu quả nghiêm trọng cho con ngƣời nếu ăn phải, phần còn lại sẽ tích lũy vào môi trƣờng đất. Môi trƣờng đất lúa có đă ̣c thù riêng , quá trình ngập nƣớc làm giảm mạnh sự trao đổi giữa đất và khí quyển, trạng thái khử chiếm ƣu thế trong đất làm cho tính chất của đất diễn biến theo chiều hƣớng khác nhiều so với đất ban đầu. Các KLN trong đất lúa chịu ảnh hƣởng đa chiều từ các mối quan hệ với các tính chất và thành phần luôn biến động của đất. Thêm vào đó , hàm lƣợng và sự chuyển hóa của các KLN trong đất lúa còn chịu ảnh hƣởng đáng kể bởi nguồn nƣớc tƣới.

Trƣớc những mố i quan hê ̣ phƣ́c ta ̣p giƣ̃a các yế u tố , quá trình chuyển hóa vật chấ t trong môi trƣờng đấ t lúa , đã có rất nhiều nghiên cứu đƣợc tiến hành để tim ̀ hiể u các mối quan hệ này. Trong số đó đã có những nghiên cứu về hàm lƣơ ̣ng KLN trong 8 môi trƣờng đấ t làm tiền đề cho việc giải thích tính tan của KLN trong môi trƣờng nƣớc, ngăn chặn và giảm thiểu những tác đô ̣ng tiêu cƣ̣c của chúng. Tuy nhiên nhƣ̃ng nghiên cƣ́u về đô ̣ng thái và sƣ̣ chuyể n hóa của KLN trong môi trƣờng đấ t đă ̣c biê ̣t là môi trƣờng đấ t lúa vẫn chƣa đƣơ ̣ c nghiên cƣ́u môt cách có hê ̣ thố ng ta ̣i Viê ̣t Nam. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu động thái và khả năng di chuyển của một số KLN (Cu, Pb, Zn) trong đất lúa sử dụng nƣớc tƣới từ sông Nhuệ khu vực Thanh Trì, Hà Nội” nhằ m tim ̀ hiể u động thái, khả năng di chuyển của các kim loại nặng trong các điều kiện môi trƣờng khác nhau, đồng thời đƣa ra cơ sở khoa học để kiểm soát và quản lý độc chất, đảm bảo sử dụng bền vững nƣớc thải làm nƣớc tƣới cho nông nghiệp nói chung và đô thị Hà Nội nói riêng.

Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá đô ̣ng thái , sƣ̣ tić h lũy , di chuyể n , giải phóng, xu hƣớng chuyể n hóa của KLN (Cu, Pb, Zn) dƣới ảnh hƣởng của điề u kiê ̣n môi trƣờng (pH, Eh, CHC, SO42-, PO43-, Ca2+, Mg2+) trong điề u kiê ̣n canh tác lúa sƣ̉ dụng nƣớc tƣới từ sông Nhuệ; Góp phần cung cấp cơ sở khoa học trong việc tái sử dụng nƣớc thải đô thi ̣làm nƣớc tƣới cho nông nghiê ̣p. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học Đề tài đã góp phần xây dựng cơ sở khoa học để khẳng định dạng tồn tại, tính tan, khả năng kết tủa, di chuyển của các KLN (Cu, Pb, Zn) ngoài việc phụ thuộc vào nồng độ/hoạt độ của chính chất đó, còn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện môi trƣờng nƣớc (pH, Eh, CHC, cƣờng độ ion cạnh tranh.), thành phần đất (CHC, Sét, Oxit kim loại…). Đề tài cũng đã làm rõ ảnh hƣởng của các yếu tố môi trƣờng đến sự tích lũy , đô ̣ng thái và tốc độ di chuyển của KLN (Cu, Pb, Zn). Ý nghĩa thực tiễn Đề tài góp phầ n phân tích , đánh giá thực trạng nguồn nƣớc sông Nhuệ và sự phù hợp để làm nƣớc tƣới cho nông nghiệp khu vực Thanh Trì, Hà Nội.

Đề tài cũng cung cấ p thông tin , số liê ̣u về sự tích lũy KLN (Cu, Pb, Zn) trên tầng đất mặt, tốc độ di chuyển xuống các tầng sâu hơn qua mỗi vụ canh tác, khi sử dụng 9 nƣớc tƣới từ sông Nhuệ. Từ đó giúp các nhà quản lý có hƣớng giải quyết về vấn đề ô nhiễm này. Những đóng góp mới của đề tài Nghiên cứu làm sáng tỏ động thái của một số KLN (Cu, Pb, Zn) trong đất lúa khi sử dụng nƣớc tƣới từ sông Nhuệ (nguồ n nƣớc chiụ tác đô ̣ng ma ̣nh bởi nƣ ớc thải đô thị); mối quan hệ/tƣơng quan giữa dạng tồn tại của các kim loại nặng (Cu, Pb, Zn) trong đất lúa liên quan đến các yếu tố Eh, pH, CHC, SO42-, PO43-, Ca2+, Mg2+. Lầ n đầ u tiên đánh giá có hê ̣ thố ng về sƣ̣ tić h lũy , giải phóng , di chuyể n, chuyể n hóa của các KLN (Cu, Pb, Zn) trong môi trƣờng đất lúa sƣ̉ du ̣ng nƣớc tƣới từ sông Nhuệ dƣới tác động của các yếu tố Eh , pH, CHC, SO42-, PO43-, Ca2+, Mg2+.

Nô ̣i dung nghiên cƣ́u Nghiên cứu chất lƣợng nƣớc và trầm tích Sông Nhuệ đoạn chảy qua huyện Thanh Trì, Hà Nội và một số đặc tính lý, hóa học của đấ t trồng lúa khu vƣ̣c nghiên cƣ́u; Đánh giá sƣ̣ tích lũy , phân bố và dạng tồn tại của KLN (Cu, Pb, Zn) trong đất khu vực nghiên cứu; Nghiên cứu khả năng di chuyể n các KLN (Cu, Pb, Zn) trong đất lúa khu vực nghiên cứu; Đánh giá ảnh hƣởng của một số điều kiện môi trƣờng (Eh, pH, CHC, SO42-, PO43-, Ca2+, Mg2+) đến động thái của các KLN (Cu, Pb, Zn). Tổng quan về kim loại nặng trong đất 1. Nguồn gốc Nguồn phong hóa khoáng vật KLN tồn tại tự nhiên trong đá và khoáng vật trải qua quá trình phong hóa đƣợc đƣa vào đất. Nhìn chung , hàm lƣợng các KLN đƣợc đƣa vào đất từ quá trình phong hóa tại chỗ của đá mẹ là khá thấp , lƣợng lớn hơn và ngày càng tăng của một số KLN trong môi trƣờng có nguồ n gố c tƣ̀ các hoạt động nhân tạo , chủ yếu là từ các hoa ̣t đô ̣ng công nghiệp và nông nghiê ̣p.

Cambell và nnk (1983) so sánh hàm lƣợng KLN đƣợc tạo ra từ các nguồn tự nhiên với các nguồ n nhân tạo và chỉ ra rằng các hoạt động của con ngƣời đã tạo ra một lƣợng KLN lớn hơn nhiề u lầ n so với các nguồ n tƣ̣ nhiên , cụ thể là gấp xấ p xỉ 15 lần đối với Cd, 100 lần đối với Pb, 13 lần đối với Cu và 21 lần đối với Zn. Các KLN này trong môi trƣờng sẽ tạo ra nhƣ̃ng tác đô ̣ng tiêu cƣ̣c và có thể gây độc cho môi trƣờng hay không phụ thuộc vào : (i) tính chất vật lý và hóa học của đất : đô ̣ chua, điều kiện ngập nƣớc, sự có mặt của khoáng sét , oxit Fe – Mn và các hợp chất hữu cơ của đất…; (ii) địa hình và thủy văn: các yếu tố này không chỉ làm thay đổi hàm lƣợng chất ô nhiễm tại vị trí bị tác động mà còn có thể vận chuyển các chất ô nhiễm từ nơi chúng đƣợc giải phóng ra đến những nơi khác ; và (iii) khu hệ vi sinh vâ ̣t (VSV) với vai trò hấp thụ và chuyển hóa các KLN trong đất và hê ̣ sinh thái (HST). Các dạng linh động của KLN trong hệ thống đất – cây trồng và các vòng tuần hoàn của chúng trong HST phụ thuộc vào khả năng phong hóa đá có dễ dàng hay không. Mức độ phong hóa sẽ xác định khả năng giải phóng các kim loại này vào trong đất.

Đá cát kết là hợp chất của khoáng vật khó bị phong hóa do vậy đóng góp ít nhất lƣợng KLN ở trong đất. Nếu đá mẹ là đá bazơ phun trào thì có tiềm năng đóng góp một lƣợng lớn Cr, Mn, Co và Ni vào đất. Trong số các loại đá mẹ trầm tích thì đá phiến sét là loại có tiềm năng đóng góp lƣợng lớn Cr , Co, Ni, Zn và Pb.1 đƣa ra hàm lƣơ ̣ng trung bình của KLN trong mô ̣t số loa ̣i đá chính. Hàm lƣợng trung bình của KLN trong một số loại đá chính Đơn vị: mg/kg Nguyên Đá siêu Đá cát Đá phiến Đá bazơ Granit Đá vôi tố bazơ kết sét Cr 2000–2980 200 4 42684 35 90–100 Mn 1040–1300 1500–2200 400–500 620–1100 22007 850 Co 110–150 35–50 1 0,1–4 0,3 19–20 Ni 2000 150 0,5 42711 42615 68–70 Cu 15615 90–100 41548 5,5–15 30 39–50 Zn 50–58 100 40–52 20–25 16–30 100–120 Cd 0,12 0,13–0,2 0,09–0,2 0,028–0,1 0,05 0,2 Sn 0,5 1–1,5 3–3,5 0,5–4 0,5 42525 Hg 0,004 0,01–0,08 0,08 0,05–0,16 0,03–0,29 0,18–0,5 Pb 0,1–14 42493 20–24 5,7–7 42651 20–23 Nguồn: Levinson (1974) và Alloway (1990a) Nguồn kim loại nặng từ khí quyển Lịch sử của việc ô nhiễm KLN từ khí quyển ở Tây bắc Châu Âu và Bắc Mỹ đã đƣợc ƣớc tính từ các nghiên cứu địa hóa than bùn đầm lầy và bùn lòng hồ.

Nhiều khu vực ở châu Âu, sự gia tăng mạnh mẽ của việc tích lũy kim loại từ nguồn khí quyển đã xuất hiện từ khoảng 200 năm trƣớc, ở Bắc Mỹ, bằng chứng về sự ô nhiễm KLN từ khí quyển xuất hiện gần đây hơn, khoảng 80–100 năm trƣớc (Norton, 1986).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu động thái và di chuyển kim loại nặng trong đất lúa tại Thanh Trì, Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự hiện diện và ảnh hưởng của kim loại nặng trong đất canh tác lúa, một vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng trong bối cảnh ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến chất lượng đất và cây trồng, mà còn đưa ra những khuyến nghị quan trọng nhằm cải thiện tình trạng này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp bền vững, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, nơi trình bày các biện pháp canh tác bền vững. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật tại kho thuốc hòn trơ xã diễn yên huyện diễn châu tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp xử lý cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của hóa chất nông nghiệp đến môi trường. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp bón phân hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất cây trồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về nông nghiệp và môi trường.