CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Keo lai là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), đây là loài có đặc tính sinh vật học và sinh thái học ưu việt hơn một số loài cây trồng rừng khác: sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, có khả năng thích ứng với nhiều loại đất, điều kiện lập địa khác nhau, có khả năng cải tạo đất, cải tạo môi sinh, có khả năng đảm bảo thành công trong rừng trồng và tạo ra vùng trồng nguyên liệu lớn, tập trung trong công nghiệp. Keo (Acacia) là một chi thực vật họ phụ Trinh nữ (Mimosoideae) thuộc họ Đậu (Leguminosae) bao gồm khoảng 1.200 loài có phân bố rộng ở châu Á, và châu Đại Dương.
Riêng Austrailia có khoảng 850 loài Keo (Acacia) với hàng trăm loài có lá giả (Pedley, 1987) [30]. Ở Việt Nam, vào đầu những năm 1960 gần 20 loài Keo (Acacia) được đưa vào thử nghiệm gây trồng, Keo lá tràm, Keo lai, Keo tai tượng là một trong những loài có khả năng thích nghi cao và sinh trưởng nhanh do đó trở thành loài cây trồng rừng phổ biến ở các tỉnh phía Nam (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2000) [19]. Ưu điểm của Keo lai là rất rõ ràng nên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có nhiều văn bản cho phép sử dụng Keo lai như Quyết định 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/3/2005 về việc ban hành Danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp Bình Định là tỉnh nằm trong vùng được phép trồng Keo lai. Theo Tiêu chuẩn ngành 04/TCN – 64 - 2003 Tiêu chuẩn công nhận giống cây lâm nghiệp (Ban hành theo Quyết định số: 35/2003/QĐ-BNN, ngày 9 tháng 1 năm 2003) Tiêu chuẩn giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia thì tất cả giống cây lâm nghiệp muốn được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật phải qua khảo nghiệm cơ bản và muốn công nhận giống Quốc gia phải qua khảo nghiệm cơ bản và khảo nghiệm mở rộng hoặc và phải đạt các tiêu chuẩn dưới đây tuỳ theo từng loại giống.
Giống cây lâm nghiệp mới Giống mới chọn tạo phải qua khảo nghiệm và đựợc Bộ NN & PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật hoặc giống quốc gia mới đựợc sử dụng. Giống cây lâm nghiệp mới ngoài tiêu chuẩn về tính khác biệt (có tính trạng mới), tính đồng nhất (về kiểu hình) và tính ổn định trong sinh sản (hữu tính hoặc sinh dưỡng) ít nhất phải có một trong các đặc tính sau đây: Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 - Năng suất vượt giống đối chứng đang được dùng phổ biến trong sản xuất ít nhất 10% về thể tích thân cây hoặc 7% lượng sản phẩm ngoài gỗ. - Khi có cùng năng suất thì chất lượng sản phẩm (gỗ hoặc ngoài gỗ) phải vượt giống đối chứng đang được dùng phổ biến trong sản xuất hơn 15% theo chỉ tiêu được tính. - Có khả năng cao hơn về tính chống chịu sâu bệnh hoặc chống chịu điều kiện bất lợi (tỷ lệ và mức độ bị hại thấp hơn giống đối chứng ít nhất 50%).
- Có các đặc trưng hình thái độc đáo phù hợp với các mục đích kinh tế - xã hội. Cây giống - Cây giống cho cây lấy gỗ phải cho hậu thế (đời sau) có thể tích thân cây vượt giống đối chứng ít nhất 15% cho cây mọc nhanh, 10% cho cây mọc chậm; hoặc có dòng vô tính với thể tích thân cây vượt giống đối chứng 20% cho cây mọc nhanh, 15% cho cây mọc chậm. - Cây giống cho cây lấy sản phẩm ngoài gỗ phải cho hậu thế (đời sau) có năng suất sản phẩm cuối cùng vượt giống đối chứng 7%, cho dòng vô tính có năng suất sản phẩm cuối cùng vượt giống đối chứng 10%. Khảo nghiệm và đánh giá giống Giống cây lâm nghiệp chưa qua khảo nghiệm chỉ đựợc sử dụng tạm thời, sau khi qua khảo nghiệm và đạt các tiêu chuẩn được nêu trên mới được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật hoặc giống quốc gia.
Giống là một trong những khâu quan trọng của trồng rừng thâm canh. Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao. Trong dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng, giống có vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác trồng rừng, đặc biệt đối với trồng rừng sản xuất. Vì thế nghiên cứu chọn tạo giống cây rừng là một khâu không thể thiếu trong sản xuất lâm nghiệp.
Công tác giống gồm nhiều bước đi khác nhau trong đó có 4 khâu quan trọng nhất là chọn lọc giống, lai giống, khảo nghiệm giống và nhân giống. Khảo nghiệm giống Khảo nghiệm giống được chia thành khảo nghiệm cơ bản và khảo nghiệm mở rộng. Tất cả các khảo nghiệm giống phải có giống cây cùng mục tiêu đã có làm đối chứng. + Khảo nghiệm cơ bản - Khảo nghiệm giống mới chọn tạo ít nhất phải ở hai lập đia, mỗi lập địa ít nhất phải lặp lại 3 lần, mỗi lần 10 cây.
- Khảo nghiệm xuất xứ hay Khảo nghiệm giống nhập nội ít nhất phải ở hai lập địa, mỗi lập địa ít nhất 3 lần lặp, mỗi lần lặp ít nhất 25 cây. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 - Khảo nghiệm hậu thế ít nhất phải có 8 lần lặp với tổng số ít nhất 30 cây cho mỗi gia đình. - Khảo nghiệm dòng vô tính ít nhất phải có 4 lần lặp với tổng số 24 cây cho mỗi dòng. - Khảo nghiệm tính chống chịu (chống chịu sâu bệnh hoặc điều kiện bất lợi) phải tiến hành ở nơi có sâu bệnh nặng hoặc có điều kiện bật lợi điển hình, ít nhất phải 4 lần lặp, mỗi lần lặp 25 cây.
- Khảo nghiệm mở rộng: Ngoài Khảo nghiệm cơ bản các loại giống muốn được công nhận là giống quốc gia còn cần qua khảo nghiệm mở rộng. Khảo nghiệm mở rộng được tiến hành ở giai đoạn cuối hoặc ngay sau khảo nghiệm cơ bản và trên cùng điều kiện lập địa như khảo nghiệm cơ bản hoặc trên một số lập địa đai diện. Diện tích khảo nghiệm mở rộng ít nhất là 0,2 ha cho mỗi giống. Trồng sản xuất thử Giống cây rừng đã được Bộ NN & PTNT công nhận là Giống quốc gia khi đưa trồng ở nơi khác phải qua trồng sản xuất thử ở những lập địa có điều kiện sinh thái đại diện cho vùng trồng rừng.
Diện tích trồng sản xuất thử ở mỗi lập địa ít nhất là 2 ha và phải có giống đối chứng. Giống được trồng sản xuất thử ở khu vực nào thì đánh giá và trồng cho khu vực ấy, chỉ mở rộng cho các khu vực có điều kiện sinh thái tương tự. Đánh giá giống cây lâm nghiệp - Giống tạm thời được đánh giá sau khi cây giống được chọn, rừng giống và vườn giống được xây dựng và đạt các tiêu chuẩn theo quy định. - Giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia được đánh giá sau khi các khảo nghiệm giống được xây dựng một số năm tuỳ theo tốc độ sinh trưởng của giống hoặc theo yêu cầu sản phẩm cuối cùng.
Thời gian đánh giá khảo nghiệm giống Thời gian đánh giá khảo nghiệm giống được quy định như sau: * Khảo nghiệm cơ bản - Cây lấy gỗ sinh trưởng nhanh: 3 năm. - Cây lấy gỗ sinh trưởng chậm: 6 năm. - Cây lấy các sản phẩm ngoài gỗ: sau khi hậu thế hoặc dòng vô tính có thu hoạch tương đối ổn định (tuỳ theo từng loài cây). - Cây có tính chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất lợi : 3 năm.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 * Khảo nghiệm mở rộng và Trồng sản xuất thử - Cây lấy gỗ sinh trưởng nhanh: 2 năm. - Cây lấy gỗ sinh trưởng chậm: 4 năm. - Cây lấy các sản phẩm ngoài gỗ: sau khi hậu thế hoặc dòng vô tính có thu hoạch (tuỳ theo từng loài cây). - Cây có tính chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất lợi: 2 năm.
Cơ sở thực tiễn Diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh hiện có 404.507 ha, chiếm 67,52% diện tích tự nhiên tỉnh, trong đó có rừng là 184.940 ha, chiếm 30,8% diện tích tự nhiên tỉnh. Độ che phủ rừng Bình Định năm 1995 là 45,5%. Diện tích đất lâm nghiệp không còn rừng là 219.567 ha, có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp 217.007 ha, không có khả năng sản xuất là 2. Diện tích có khả năng phát triển rừng ước tính gấp trên 1,5 lần diện tích rừng tự nhiên hiện có ở tỉnh.
Đây là nguồn tiềm năng lớn để phát triển sản xuất lâm nghiệp, trồng rừng phòng hộ sinh thái, phòng hộ cảnh quan kết hợp với trồng rừng kinh tế, trồng cây công nghiệp theo phương thức nông lâm kết hợp để tạo nguồn sản phẩm hàng hóa, đồng thời phát triển trồng rừng phòng hộ chống cát bay ven biển bảo vệ sản xuất nông nghiệp và cuộc sống nhân dân ven biển. Ngành lâm nghiệp Bình Định đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đáp ứng phần lớn nhu cầu cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản, nhu cầu sử dụng gỗ và chất đốt cho nhân dân, tăng nguồn thu ngân sách, nâng cao mức sống, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, công tác quản lý tài nguyên rừng và tổ chức sản xuất ngành lâm nghiệp hiện nay còn nhiều hạn chế và yếu kém. Tiềm năng lợi thế của tài nguyên rừng chưa được khai thác sử dụng có hiệu quả, nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác gỗ trái phép ngày càng gia tăng, gây áp lực cho ngành trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp của tỉnh không đảm bảo tính cân đối và đồng bộ. Các chương trình lâm nghiệp của Nhà nước tập trung chủ yếu là bảo vệ và trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, trồng rừng sản xuất gỗ nguyên liệu có năng suất và chất lượng cao chưa được chú trọng phát triển. Để quản lý, sử dụng và phát triển rừng một cách bền vững, đòi hỏi phải bố trí một cách cân đối và hợp lý các hoạt động sản xuất lâm nghiệp phù hợp từng loại rừng trên địa bàn. Hiện trạng đất lâm nghiệp cho thấy trong toàn tỉnh còn 240.002 ha chưa có rừng.
Trong đó phần diện tích có khả năng sản xuất nông lâm là 237. Phần diện tích còn lại không có khả năng sản xuất là 2. Điều đó cho thấy việc phát triển trồng rừng trên phần đất trồng có một ý nghĩa lớn trong việc phát triển kinh tế cũng như tăng cường bảo vệ môi sinh của tỉnh.