Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới Cây lúa là một trong những cây lương thực quan trọng đối với đời sống của con người nên được trồng và phân bố rộng khắp Thế giới. Lúa đã và đang đóng vai trò quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp.
Bằng chứng là diện tích và sản lượng lúa gạo của Thế giới đang tăng lên theo từng năm (số liệu thống kê ở bảng 1. Đến năm 2014 [38] thì tổng diện tích trồng lúa trên Thế giới đã lên đến xấp xỉ 164 triệu ha với năng suất trung bình 44 tạ/ha với tổng sản lượng của toàn Thế giới năm 2014 đạt khoảng 723 triệu tấn. Tình hình sản xuất lúa gạo giai đoạn 2010-2014 của Thế giới Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 2014 Năm Diện tích Thế giới 155.270 Năng suất Thế giới 4,24 4,30 4,32 4,33 4,40 (tấn/ha) Châu Á 4,30 4,36 4,39 4,43 4,50 Sản lượng Thế giới 656.240 (Nguồn: FAO,2015) e 5 Mặc dù có nhiều sự thay đổi nhưng nhìn chung trong giai đoạn từ năm 2010-2014, sản lượng lúa Thế giới có xu hướng tăng dần nhưng chậm. Không những chỉ tăng về diện tích mà còn tăng về năng suất (trung bình năm 2010 là 4,24 tấn/ha thì đến năm 2014 là 4,40 tấn/ha).
Có thể nói, sản lượng lúa gạo toàn Thế giới tăng trong thời gian qua chủ yếu là do tăng năng suất, diện tích và sản lượng của Châu Á. Theo thống kê thì tính đến nay có khoảng hơn 100 quốc gia trên Thế giới sản xuất lúa gạo, trong đó chủ yếu tập trung nhiều tại các nước Châu Á và 85% sản lượng lúa của Thế giới phụ thuộc vào 8 nước ở Châu Á là Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Bangladesh, Myanmar và Nhật Bản. Hiện nay nước dẫn đầu về diện tích là Ấn Độ với 44. Nhưng Trung Quốc lại là nước có sản lượng cao nhất Thế giới đạt 202.
Nhóm các nước sản xuất lúa gạo dẫn đầu Thế giới có năng suất cao trung bình khoảng 30-40 tạ/ha, trong đó nước có năng suất cao nhất là Trung Quốc (6,69 tấn/ha), sau đó đến Việt Nam (5,53tấn/ha), Nhật Bản (tính theo gạo) (5,33tấn/ha) (bảng 1. Nếu so với tốc độ tăng trưởng dân số như hiện nay thì tốc độ tăng sản lượng lúa của Thế giới vẫn còn rất thấp, không cung cấp đủ nhu cầu tiêu thụ. Chính vì vậy vấn đề đặt ra hiện nay đối với ngành sản xuất lúa gạo nói chung cũng như các nhà nghiên cứu nói riêng phải nâng cao hơn nữa năng suất, sản lượng đảm bảo an ninh lương thực. Sản xuất lúa gạo của 10 nước đứng đầu Thế giới Nãm 2010 Nãm 2011 Nãm 2012 Diện tích Sản lượng Năng Sản lượng Diện tích Sản lượng Nước Năng suất Diện tích Năng suất (nghìn (nghìn suất (nghìn (nghìn (nghìn (tấn/ha) (nghìn ha) (tấn/ha) ha) tấn) (tấn/ha) tấn) ha) tấn) Trung Quốc 29.
Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, đặc biệt là lượng bức xạ mặt trời cao - rất thích hợp và thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Nước ta có thể là cái nôi hình thành cây lúa nước, từ lâu nó đã trở thành cây lương thực chính, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống cũng như nền kinh tế nước nhà. Nhờ chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật như việc sử dụng các giống lúa mới có năng suất cao, thay đổi cơ cấu mùa vụ, xây dựng hệ thống thủy lợi… đã đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu lớn trên Thế giới. Trong giai đoạn hiện nay chúng ta cũng không ngừng nỗ lực nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo, số liệu bảng 1.3 cho thấy năng suất năm 2005 đạt mức 48,9 tạ/ha đã tăng lên 55,3 tạ/ha vào năm 2011, tương đương sản lượng tăng từ 35,83 triệu tấn lên 42,32 triệu tấn.
Năm 2012, do điều khí hậu thời tiết thuận lợi nên nhìn chung tình hình sản xuất lúa gạo của nước ta đạt kết quả khá cao. Cụ thể là diện tích gieo cấy ước đạt 7. Trong đó: - Lúa Đông Xuân: đạt gần 20,30 triệu tấn, tăng 510,40 nghìn tấn so với vụ Đông Xuân năm trước do diện tích tăng 27,60 nghìn ha và năng suất tăng 1,1 tạ/ha. - Lúa Hè Thu: Sản lượng lúa Hè Thu đạt 14 triệu tấn, tăng 573,30 nghìn tấn do diện tích đạt 2.660 nghìn ha, tăng 70,30 nghìn ha, riêng diện tích lúa Thu Đông tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tăng 31,30 nghìn ha); năng suất đạt 5,25 tấn/ha (tăng 0,07 tấn/ha).
- Lúa Mùa: Sản lượng lúa Mùa ước tính đạt gần 9,4 triệu tấn, tăng 179,60 nghìn tấn, chủ yếu do năng suất tăng 0,09 tấn/ha. e 8 Kết quả đó không chỉ cung cấp đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu đem lại nguồn doanh thu đáng kể cho nền kinh tế quốc doanh. Cũng theo số liệu thống kê của Trung tâm tư liệu thống kê - Tổng cục thống kê [37] thì tính đến hết năm 2012 nước ta đã xuất khẩu gạo được một số lượng kỷ lục là khoảng 8,1 triệu tấn, thu về 3,7 tỷ USD (tăng 13,9% về lượng và 2,1% về giá trị so cùng kỳ năm 2011) Mức xuất khẩu này vượt xa dự báo của Tổ chức Lương-Nông Liên Hợp Quốc (FAO) hồi tháng 5/2012 rằng năm 2012 Việt Nam xuất khẩu mức 7,2 triệu tấn gạo.3) Hiện nay, nước ta đã xuất khẩu gạo sang hơn 85 nước trên Thế giới, nhưng thị trường tiêu thụ gạo chủ yếu của nước ta là Châu Á và Châu Mỹ. Đặc biệt năm 2012, thị trường xuất khẩu gạo có nhiều thay đổi, trong đó thị trường Trung Quốc tăng mạnh gấp 6,4 lần về lượng và 5,4 lần về giá trị.
Trung Quốc trở thành thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong năm 2012. Ngược lại nhiều thị trường lớn khác lại sụt giảm vả về lượng và giá trị như Indonesia, Singapore, Senegal và Philippines. Đồng thời cũng phải nhìn nhận một vấn đề lớn là tuy mừng về kỷ lục lượng xuất khẩu nhưng lại bị giảm về giá trị so với 2011, do nguồn cung dồi dào, nhu cầu giảm, lượng hàng tồn lớn…dẫn đến các nước xuất khẩu như Thái Lan, Ấn Độ, Myanmar, Pakistan… cạnh tranh quyết liệt khiến giá thành giảm. Bên cạnh đó theo như Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, giá gạo Việt Nam hiện đang được bán với giá thấp hơn so với gạo cùng phẩm cấp của các nước xuất khẩu gạo chủ lực trong khu vực khoảng 40 - 50 USD/tấn.
Cụ thể gạo 5% tấm của Việt Nam chỉ có 395 USD/tấn trong khi giá gạo cùng loại của Ấn Độ bán với giá 430 USD/tấn, Pakistan 445 USD/tấn. Với mức giá này, có ý kiến nhận định giá gạo xuất khẩu quý I/2013 của Việt Nam thấp nhất Thế giới, giảm từ mức bình quân 505 USD/tấn năm 2011 xuống còn 432 USD/tấn năm 2012. e 9 Theo một số chuyên gia, nguyên nhân là do trong khi các hợp đồng nhập khẩu gạo ít, các thị trường khác chưa đẩy mạnh mua thì doanh nghiệp Việt Nam tập trung vào thị trường Trung Quốc và đây có thể là nguyên nhân khiến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thấp đi trong thời gian qua. Chính vì vậy cần có những chính sách, chiến lược kinh doanh thích hợp để nâng cao giá trị của lúa gạo Việt Nam trên thương trường quốc tế, góp phần thúc đẩy sản xuất, cải thiện đời sống người dân.
Tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của nước ta giai đoạn 2005 - 2012 Diện tích Năng suất Sản lượng Xuất khẩu Trị giá Năm (nghìn ha) (tấn/ha) (triệu tấn) (triệu tấn) (triệu USD) 2005 7.700 (Nguồn: Tổng cục thống kê 2013) Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) chỉ chiếm 14,96% diện tích (1,144 triệu ha) nhưng lại cung cấp 16,49% sản lượng (6.979 nghìn tấn) của cả nước với năng suất trung bình cao nhất đạt 6,10 tấn/ha. Tuy vậy, do mức tăng dân số lớn, diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người thấp, quy mô nhỏ lẻ, manh mún… nên lượng lúa gạo xuất khẩu của đồng bằng sông Hồng là rất nhỏ. Trong đó, những năm gần đây thành phố Hà Nội có diện tích và sản lượng cao nhất khu vực với 204 nghìn ha; 1.217 nghìn tấn trong năm 2011 (do sự sát nhập của tỉnh Hà Tây cũ). Nhưng Thái Bình lại là tỉnh dẫn đầu khu e 10 vực nói riêng và cả nước nói chung về năng suất, trung bình đạt 6,59 tấn/ha.
Tình hình sản xuất lúa gạo ở Đồng bằng Sông Hồng những năm gần đây Năm 2012 Năm 2013 Tỉnh/thành Năng Sản lượng Diện tích Năng Sản lượng phố Diện tích suất (nghìn (nghìn suất (nghìn (nghìnha) (tấn/ha) tấn) ha) (tấn/ha) tấn) Cả nước 7.092 Nam Định 159 5,99 952 158 5,88 932 Bắc Giang 128 5,94 758 127 6,22 787 Hưng Yên 82 6,28 515 82 6,45 529 Ninh Bình 81 5,99 486 81 6,04 488 Bắc Ninh 74 5,92 440 74 6,35 468 Hải Phòng 81 6,00 486 80 6,15 489 Hà Nam 70 5,94 417 70 6,13 428 Vĩnh Phúc 59 5,30 314 59 5,67 336 Quảng Ninh 45 4,67 209 44 4,86 213 (Nguồn: Tổng cục thống kê 2013) Qua số liệu của tổng cục thống kê cho thấy Bắc Giang cũng là một trong những tỉnh có năng suất, sản lượng lúa gạo khá cao đứng thứ 5 toàn quốc về năng suất đạt 6,22 tấn/ha (xấp xỉ 112,5 % năng suất trung bình của cả nước) và 787 nghìn tấn (năm 2011) 1. Những nghiên cứu cơ bản về cây lúa 1. Nguồn gốc cây lúa Lúa là một trong những loại cây trồng có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất. Căn cứ vào các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam… cây lúa có e 11 mặt từ 3000-2000 năm trước Công nguyên.
Ở vùng Triết Giang - Trung Quốc đã xuất hiện cây lúa từ 5000 năm, ở hạ lưu sông Dương Tử là 4000 năm. Tuy nhiên vẫn còn thiếu những tài liệu để xác định một cách chính xác thời gian cây lúa được đưa vào trồng trọt [8] Ở Việt Nam, cây lúa được coi là cây trồng “bản địa”, không phải là loại cây từ nơi khác đưa vào (Bùi Huy Đáp, 1999). Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam cũng có thể là cái nôi hình thành cây lúa nước. Từ lâu, cây lúa nước đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế và xã hội của nước ta [6].
Lúa trồng hiện nay có nguồn gốc từ lúa dại. Việc xác định trực tiếp tổ tiên của cây lúa trồng ở Châu Á (Oryza sativa) vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.