Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của hạn và salicylic acid ở giai đoạn trổ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lúa di hương

Khóa luận nghiên cứu ảnh hưởng của hạn và salicylic acid đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa Di Hương giai đoạn trổ.

Chuyên ngành

Sinh lý thực vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

82
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. LỜI CẢM ƠN

1.2. DANH MỤC BẢNG

1.3. DANH MỤC HÌNH

1.4. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU

1.5. TÓM TẮT KHOÁ LUẬN

1.6. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.6.1. Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài

1.6.1.1. Mục đích của đề tài
1.6.1.2. Yêu cầu của đề tài
1.6.1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.7. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.7.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu cây lúa trên thế giới và Việt Nam

1.7.1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
1.7.1.2. Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam

1.7.2. Hạn và ảnh hưởng của nó đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng

1.7.2.1. Ảnh hưởng của hạn đối với sinh trưởng, phát triển của cây lúa
1.7.2.2. Cơ sở khoa học tính chịu hạn của cây trồng
1.7.2.3. Vai trò của salicylic acid đến khả năng chịu hạn của cây trồng

1.8. PHẦN III: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.8.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

1.8.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

1.8.3. Nội dung nghiên cứu

1.8.4. Phương pháp nghiên cứu

1.8.5. Bố trí thí nghiệm

1.8.6. Các biện pháp kỹ thuật áp dụng

1.8.7. Điều kiện môi trường

1.8.8. Các chỉ tiêu theo dõi

1.8.8.1. Theo dõi các thời kỳ sinh trưởng và phát triển
1.8.8.2. Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng
1.8.8.3. Các chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
1.8.8.4. Các chỉ tiêu sinh lý
1.8.8.5. Đánh giá khả năng chịu hạn dựa trên mức độ suy giảm năng suất cá thể
1.8.8.6. Mức độ nhiễm bệnh hại

1.8.9. Phương pháp xử lý số liệu

1.9. PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1.9.1. Ảnh hưởng của SA và hạn đến thời gian sinh trưởng

1.9.2. Ảnh hưởng của SA và hạn đến chiều cao cây

1.9.3. Ảnh hưởng của SA và hạn đến động thái đẻ nhánh

1.9.4. Ảnh hưởng của SA và hạn đến giá trị SPAD

1.9.5. Ảnh hưởng của SA và hạn đến chỉ số diện tích lá

1.9.6. Ảnh hưởng của SA và hạn đến khối lượng tươi và khối lượng chất khô

1.9.6.1. Ảnh hưởng của SA và hạn đến khối lượng tươi và khối lượng khô 1 tuần trước khi gây hạn
1.9.6.2. Ảnh hưởng của SA và hạn đến khối lượng tươi và khối lượng khô khi thu hoạch

1.9.7. Ảnh hưởng của SA và hạn đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

1.9.8. Đánh giá khả năng chịu hạn dựa trên mức độ suy giảm năng suất cá thể

1.9.9. Mức độ nhiễm bệnh hại

2. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của hạn và salicylic acid đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa Di Hương. Lúa là cây trồng chủ lực trong sản xuất lương thực, nhưng tình trạng hạn hán đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lúa. Việc sử dụng salicylic acid được xem là một giải pháp tiềm năng để cải thiện khả năng chịu hạn của cây lúa. Nghiên cứu này nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lúa trong điều kiện hạn.

1.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của nghiên cứu là đánh giá tác động của hạn và salicylic acid đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Di Hương. Nghiên cứu sẽ xác định khả năng sinh trưởng và phát triển của giống lúa trong điều kiện hạn, cũng như ảnh hưởng của salicylic acid đến các yếu tố cấu thành năng suất.

1.2. Ý nghĩa của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng về ảnh hưởng của hạn và salicylic acid đến sinh lý và sinh trưởng của cây lúa. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn góp phần vào việc phát triển các giống lúa có khả năng chịu hạn tốt hơn, từ đó đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

II. Tình hình sản xuất lúa

Sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là tình trạng hạn hán. Theo báo cáo, khoảng 40% diện tích canh tác lúa trên toàn cầu phụ thuộc vào nước trời, khiến cho sản lượng lúa bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi xảy ra hạn. Tại Việt Nam, tình hình sản xuất lúa cũng không khả quan hơn, với nhiều vùng bị ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn. Việc nghiên cứu và phát triển các giống lúa có khả năng chịu hạn là rất cần thiết để đảm bảo năng suất và chất lượng lúa trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt.

2.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng gạo toàn cầu năm 2020 ước đạt 495,2 triệu tấn, giảm 0,3% so với năm 2019. Hạn hán đã làm giảm năng suất lúa ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các khu vực phụ thuộc vào nước trời. Việc tăng cường nghiên cứu và phát triển giống lúa chịu hạn là cần thiết để đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu.

2.2. Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia sản xuất lúa lớn trên thế giới. Mặc dù sản xuất lúa năm 2020 vẫn đạt được mùa, nhưng tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến năng suất. Các địa phương đã chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để giảm thiểu thiệt hại, tuy nhiên, việc phát triển giống lúa có khả năng chịu hạn vẫn là một thách thức lớn.

III. Ảnh hưởng của hạn và salicylic acid

Nghiên cứu cho thấy rằng hạn hán có tác động tiêu cực đến sinh trưởng và năng suất của cây lúa. Thiếu nước làm giảm chiều cao cây, số nhánh và kéo dài thời gian trỗ. Tuy nhiên, việc phun salicylic acid có tác động tích cực đến khả năng tích lũy chất khô và năng suất của cây lúa. Kết quả cho thấy phun salicylic acid hai lần cho hiệu quả cao nhất trong việc cải thiện khả năng chống chịu và phục hồi của cây lúa trong điều kiện hạn.

3.1. Ảnh hưởng của hạn đến sinh trưởng

Thiếu nước trong giai đoạn trỗ làm giảm chiều cao cây và số nhánh, ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất như số bông/khóm và số hạt/bông. Nghiên cứu chỉ ra rằng cây lúa bị hạn có năng suất giảm đáng kể, điều này cho thấy tầm quan trọng của việc quản lý nước trong sản xuất lúa.

3.2. Tác động của salicylic acid

Phun salicylic acid cho thấy có tác động tích cực đến khả năng chống chịu của cây lúa trong điều kiện hạn. Kết quả cho thấy phun hai lần salicylic acid giúp cây lúa phục hồi tốt hơn và đạt năng suất cao hơn so với cây không phun. Điều này chứng tỏ rằng salicylic acid có thể là một giải pháp hiệu quả để cải thiện khả năng chịu hạn của cây lúa.

IV. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hạn và salicylic acid có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa Di Hương. Việc áp dụng salicylic acid trong điều kiện hạn có thể giúp cải thiện năng suất và chất lượng lúa. Đề xuất nghiên cứu thêm về các biện pháp kỹ thuật khác nhằm nâng cao khả năng chịu hạn của cây lúa, từ đó đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

4.1. Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng salicylic acid có thể cải thiện khả năng chịu hạn của cây lúa, từ đó nâng cao năng suất. Điều này mở ra hướng đi mới trong việc phát triển giống lúa có khả năng chịu hạn tốt hơn.

4.2. Đề xuất

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các giống lúa có khả năng chịu hạn, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý để nâng cao năng suất và chất lượng lúa trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của hạn và salicylic acid ở giai đoạn trổ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lúa di hương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Lúa (Oryza sativa L.) là cây trồng có vai trò rất quan trọng do chiếm phần lớn nguồn lương thực của con người (Hadiarto and Tran, 2011). Mặc dù phần lớn đất canh tác lúa được chủ động về thủy lợi nhưng có đến 40% tổng diện tích canh tác lúa trên thế giới canh tác nhờ nước trời. Khi gặp hạn hán, lúa canh tác ở những vùng đất này bị suy giảm năm suất nghiêm trọng (Kamoshita and Babu, 2008). Ở Việt Nam có trên 2,1 triệu hecta đất canh tác lúa có thể gặp các điều kiện bất lợi, trong đó hạn hán là nguyên nhân chính làm suy giảm năng suất lúa.

Theo Vũ Thị Thu Hiền và Phạm Văn Cường (2012), ở miền Bắc Việt Nam, thời kỳ thiếu nước thường vào giai đoạn đẻ nhánh ở vụ Xuân (tháng 2 - 4) và giai đoạn lúa sau trổ bông vào vụ Mùa (tháng 9). Trong những năm gần đây, nước ta đã nghiên cứu và chọn tạo lai tạo nhiều giống lúa có năng suất và chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong nước. Tuy nhiên khả năng thích nghi của mỗi giống với vùng sinh thái là khác nhau. Điều kiện môi trường bất lợi trong trồng trọt, đặc biệt là hạn hay sự thiếu nước là một trong số những yếu tố hạn chế sinh trưởng, phát triển và năng suất gây thiệt hại về kinh tế và kìm hãm sản xuất lúa trên thế giới cũng như ở Việt Nam.

Chính vì vậy, nghiên cứu giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế ảnh hưởng của hạn với sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây lúa là hết sức cần thiết. Trước thực trạng đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hạn và salicylic acid ở giai đoạn trỗ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Di Hương ”. Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 2.1 Mục đích của đề tài Đánh giá ảnh hưởng của hạn và Salicylic acid tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa Di Hương từ đó góp phần làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng biện pháp kĩ thuật canh tác hợp lý cho cây lúa trong điều kiện hạn. Yêu cầu của đề tài - Xác định được khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng hình thành năng suất của giống lúa Di Hương trong điều kiện hạn.

- Xác định được ảnh hưởng của salicylic acid đến khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng hình thành năng suất của giống lúa Di Hương trong điều kiện hạn. Ý nghĩa của đề tài - Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của sự thiếu nước và ảnh hưởng Salicylic acid đến một số hoạt động sinh lý, sinh trưởng, phát triển, khả năng nhiễm bệnh; mối liên quan giữa chúng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất, chất lượng của lúa. - Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở để xây dựng các biện tăng khả năng chịu hạn nhằm tăng năng suất, chất lượng của lúa. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.

Tình hình sản xuất và nghiên cứu cây lúa trên thế gới và Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Theo thông tin dự báo cập nhật mới nhất trong tháng 7 của Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng gạo của thế giới năm 2020 ước đạt 495,2 triệu tấn, giảm khoảng 0,3% so với năm 2019. Tiêu dùng gạo thế giới năm 2020 ước đạt 490,4 triệu tấn, tăng khoảng 1,3% so với năm 2019. Diện tích trồng lúa trên toàn cầu sẽ tăng 1,5% so với niên vụ trước và đạt 163 triệu ha. Diện tích này chỉ thấp hơn 0,3 triệu ha so với mức cao kỷ lục lịch sử đạt được vào niên vụ 2016/2017.

Với diện tích như trên, cộng với việc tăng năng suất bình quân trên toàn thế giới, sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2020/2021 dự kiến sẽ đạt kỷ lục 502 triệu tấn, tăng gần 2% so trước đó và tăng khoảng 3,8 triệu tấn so với niên vụ trước. Những quốc gia được WASDE dự báo sẽ tăng đáng kể diện tích trồng lúa là Myanmar, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nigeria, Thái Lan và Mỹ. Ngược lại, một số nước như Brazil và Philippines, lại được dự báo sẽ tiếp tục giảm về diện tích. Với dự báo sẽ tăng diện tích, Trung Quốc, Thái Lan và Mỹ sẽ có sản lượng tăng mạnh nhất trong niên vụ 2020/2021.

Các nước Australia, Myanmar, Nigeria, Sri Lanka và Pakistan cũng sẽ tăng sản lượng. Ấn Độ nhiều khả năng sẽ duy trì sản lượng ở mức cao kỷ lục trong năm nay. Còn sản lượng ở Brazil và Philippines dự báo sẽ giảm. Tiêu thụ và thất thoát gạo trên toàn cầu trong niên vụ 2020/2021 dự báo sẽ đạt kỷ lục 498,1 triệu tấn, tăng gần 2% so với năm trước đó.

Trong đó, Trung Quốc và Ấn Độ sẽ chiếm phần lớn mức tăng dự kiến. Tiêu thụ gạo ở Trung Quốc tăng chủ yếu đến từ lĩnh vực công nghiệp. Tiêu thụ và thất thoát gạo ở Bangladesh, Ai Cập, Philippines, Thái Lan, Mỹ và Việt Nam, dự báo cũng sẽ tăng lên. Với sản lượng gạo toàn cầu dự báo cao hơn 3,8 triệu tấn so với vụ trước, tồn trữ 3 gạo toàn cầu niên vụ 2020/2021 dự báo sẽ tăng 2% lên mức kỷ lục 148,2 triệu tấn.

Đây là năm thứ 14 tồn trữ gạo toàn cầu tăng liên tiếp. Trong đó, tồn trữ/dự trữ gạo cuối vụ 2020/2021 của Trung Quốc dự báo sẽ đạt kỷ lục 117 triệu tấn, Ấn Độ cũng cao kỷ lục 38 triệu tấn. Hai nước này sẽ chiếm lần lượt 64% và 21% tổng lượng tồn trữ/dự trữ gạo trên toàn cầu. Tồn trữ gạo của Mỹ cũng sẽ tăng 37% lên 1,3 triệu tấn.

Tỷ lệ sử dụng/tồn trữ gạo trên toàn cầu cuối niên vụ 2020/2021 dự báo sẽ ở mức 37%, cao hơn chút ít so với 36,8% của niên vụ trước, nhưng vẫn thấp hơn mức kỷ lục 37,3% của vụ 2000/2001. Thương mại gạo toàn cầu năm 2021sẽ đạt 45,2 triệu tấn, tăng hơn 5% so với năm 2020, nhưng vẫn thấp hơn gần 3 triệu tấn của mức kỷ lục 48,1 triệu tấn năm 2017. Dự báo Thái Lan, với việc tăng xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo trong năm 2021, sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng mức tăng xuất khẩu gạo vào năm tới. Xuất khẩu gạo của Việt Nam, Australia, Campuchia và Trung Quốc dự báo cũng sẽ tăng trong năm 2021.

Về nhập khẩu, Philippines sẽ tăng lượng nhập thêm 800. Các thị trường như Nigeria, Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất dự báo sẽ tăng nhập khẩu thêm 200.000 tấn gạo mỗi nước. Việc tăng nhập khẩu ở những thị trường trên sẽ bù lại cho việc nhập khẩu giảm sút ở Trung Quốc, Indonesia và Hàn Quốc. Về thương mại gạo toàn cầu năm 2020, sẽ điều chỉnh tăng 0,1 triệu tấn lên 42,9 triệu tấn, nhưng vẫn thấp hơn 1% so với năm trước đó.

Về xuất khẩu trong năm 2020, dự báo Việt Nam sẽ tăng 0,2 triệu tấn, Campuchia tăng 0,3 triệu tấn…, trong khi Trung Quốc sẽ giảm 0,3 triệu tấn. Khô hạn là yếu tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng tới an toàn lương thực của nhân loại và điều này đã xảy ra nhiều lần trong quá khứ trên những phạm vi rộng hẹp khác nhau. Hạn hán làm giảm năng suất cây trồng, làm giảm diện tích gieo trồng và sau đó làm giảm sản lượng cây trồng mà chủ yếu là sản lượng lương 4 thực. Khi hạn xảy ra, con người đẩy mạnh thủy lợi và các đầu tư khác, đồng nghĩa với tăng chi phí sản xuất nông nghiệp, do đó làm giảm thu nhập của người lao động, đồng thời kéo theo một loạt các hậu quả kinh tế xã hội nghiêm trọng như bệnh tật và đói nghèo.

Cuộc khủng hoảng nước đang dần xuất hiện đe dọa đến nguồn cung cấp lương thực này. Theo các nhà khoa học liên hợp quốc đã cảnh báo trong năm 2005, trên thế giới cứ 6 quốc gia thì có một quốc gia phải đối mặt với tình hình thiếu lương thực vì những đợt hạn hán liên tục do biến đổi khí hậu. Hơn 10 năm nay nhiều nước bị mất mùa và trong một vài năm trở lại đây chịu tới ba đến bốn lần hạn hán khắc nghiệt. Tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2001) cho biết, trong những năm tới không phải là lũ lụt hay mưa bão mà là khô hạn sẽ quay trở lại đe dọa khu vực Châu Á.

Thông thường tình hình hạn hán ảnh hưởng toàn bộ đến khu vực Châu Á, và gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế khu vực. Trong khi đó khoảng 1/5 diện tích lúa trồng ở châu Á luôn nằm trong vùng hạn hán quanh năm. Năm 2004 các đợt hạn hán kéo dài trên quy mô rộng lớn đã làm cho sản xuất nông nghiệp châu Á thiệt hại hàng trăm triệu USD và đẩy hàng trăm triệu người dân lâm vào cảnh nghèo đói. Theo phân tích của trung tâm khí tượng thế giới cho thấy nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu trong năm 2006 cao hơn 0,420C- 0,50C so với mức trung bình của thời kỳ 1961 -1990.

Năm 2006 được coi là năm nóng thứ 6 và tháng 12/2006 là tháng 12 nóng nhất kể từ khi có theo dõi nhiệt độ toàn cầu. Với tầm quan trọng như vậy người ta đã hoạch định một thứ tự ưu tiên trong đầu tư nghiên cứu tính chống chịu khô hạn và tính chống chịu mặn trong lĩnh vực cải tiến giống cây trồng, sau đó là tính chống chịu lạnh, chống chịu ngập úng… Theo ước tính của các nhà khoa học IRRI, lúa rẫy chiếm 10% diện tích trồng lúa ở Nam và Đông Nam Á (8,1 triệu ha), Brasil là 80% (4,5 triệu ha) và 75% đất trồng lúa ở châu Phi (60 triệu ha). Diện tích lúa chịu hạn chiếm 13% diện tích đồng ruộng. Trong khi đó hạn hán diễn ra liên tục và ngày càng khốc liệt trên 5 quy mô toàn cầu.

Trước những bức bách này Buman và các đồng nghiệp tại IRRI đã nhanh chóng nghiên cứu để tạo ra giống lúa và kĩ thuật nông nghiệp mới có thể duy trì tăng năng suất song lại sử dụng nước ít hơn hiện nay. Bên cạnh các giải pháp nâng cao hiệu quả hệ thống thuỷ lợi, đồng thời nâng cấp các hệ thống này và buộc người sử dụng phải trả tiền thì áp lực đối với các nhà nghiên cứu của nông học là tạo được các giống lúa mới có khả năng chịu hạn gọi là “lúa ưa khí” ở các vùng nhiệt đới. Các giống lúa mới này có khả năng phát triển trên đất cạn. Các thử nghiệm đầu tiên về giống lúa mới này ở Trung Quốc, Brasil và một số vùng khác cho thấy giống lúa mới này chỉ đòi hỏi một nửa lượng nước cần thiết song chất lượng gạo cũng tốt như lúa nước được canh tác bằng phương pháp truyền thống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng của hạn và salicylic acid đến sinh trưởng và năng suất lúa Di Hương là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích tác động của điều kiện hạn hán và việc sử dụng salicylic acid lên quá trình sinh trưởng và năng suất của giống lúa Di Hương. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về cách cải thiện khả năng chịu hạn của cây lúa, đồng thời đề xuất các biện pháp ứng dụng salicylic acid để tối ưu hóa năng suất. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân và những người quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả canh tác lúa trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến sinh trưởng và năng suất cây trồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến giống lúa mt 10 trên đất phù sa tại bình định, Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu khả năng tái sinh in vitro ở một số giống lúa và xây dựng quy trình chuyển gen thông qua vi khuẩn agrobacterium tumefaciens, và Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến khả năng sinh trưởng và năng suất giống đậu tương đt51 trong vụ hè thu năm 2017 tại thái nguyên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cây trồng.