Chương 1: Cơ sở lý luận xây dựng và đổi mới chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội.1 Khái niệm về chương trình đào tạo (CTĐT).1 Khái niệm về CTĐT trên thế giới. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về CTĐT, trong đó có vài quan niệm phản ánh được những nét cơ bản nhất của CTĐT như sau: Tyler cho rằng CTĐT phải bao gồm 4 thành tố cơ bản của nó là: - Mục tiêu đào tạo; - Nội dung đào tạo; - Phương pháp và quy trình đào tạo; - Cách đánh giá kết quả đào tạo; Như vậy, quan niệm về CTĐT không đơn giản là cách định nghĩa mà nó thể hiện rất rõ về quan điểm đào tạo. TWentling cho rằng: “CTĐT là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (đó có thể là một khóa học kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc một vài năm). Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì ta có thể trông đợi ở người học sau khóa học, nó phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho ta biết các phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ”, [34, tr.
Khái niệm về CTĐT ở Việt Nam. Trước khi ban hành Luật giáo dục: Khi chưa ban hành Luật giáo dục, ở Việt Nam chưa có một tên gọi thống nhất về CTĐT. Các trường, cơ sở đào tạo đều có những văn bản pháp quy trong đó quy định mục tiêu, nội dung, tiến trình thực hiện trong công tác giảng dạy bên cạnh đó là chương trình các môn học và các chỉ dẫn thực hiện. Vì vậy các trường và cơ sở đào tạo tự đặt những tên gọi khác nhau như: “ Chương trình đào tạo”, “Chương trình giảng dạy”, “Kế hoạch đào tạo”, “Kế hoạch giảng dạy”… Tuy tên gọi khác nhau nhưng đều chứa một nội hàm, tức là những nội dung theo quy định như đã trình bày ở trên.
Đây là sự tên gọi không thống nhất trong hệ thống giáo dục. Sau khi ban hành Luật giáo dục: Luận văn cao học - 13 - Học viên: Đinh Thị Hải Hà GVHD: TS. Lê Thượng Hiền Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Theo Nghị định số 43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật giáo dục. Chương trình giáo dục quy định tại điều 24, 30 và 36 của luật giáo dục: là văn bản cụ thể hóa mục tiêu giáo dục, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo.
- Chương trình giảng dạy: Đã được hiểu như chương trình đào tạo khi chưa có luật giáo dục. Tuy nhiên cụm từ trên chỉ quan tâm đến họat động dạy mà không chú ý đến họat động học. Do vậy ta có thể hiểu chương trình giảng dạy là một phần của chương trình đào tạo. - Kế hoạch đào tạo: Bao gồm kế hoạch giảng dạy và học tập.
+ Kế hoạch giảng dạy: Là bảng phân phối thời gian và bố trí giáo viên giảng dạy các môn học cho cả khóa học, kèm theo những quy định về công tác giáo dục, kiểm tra, đánh giá. + Kế hoạch học tập: Nội dung dành cho người học như một thời khóa biểu qua đó người học có thể nắm bắt được địa điểm học tập cho từng môn học, tiến độ thực hiện và những nội dung theo yêu cầu của giáo viên giảng dạy và giáo viên hướng dẫn. - Chương trình môn học: Là văn bản quy định mục tiêu, nội dung, thời gian chi tiết cho nội dung giảng dạy và kiểm tra, đánh giá môn học đó. Trên đây là một số khái niệm tác giả đưa ra có liên quan đến chương trình đào tạo theo cách hiểu truyền thống và quan điểm giáo dục hiện đại.
Những cụm từ: “Chương trình giáo dục”, “Kế hoạch đào tạo”, “Kế hoạch giảng dạy”, “kế hoạch học tập”… chỉ là một phần của chương trình đào tạo hay nói cách khác là nội hàm của khái niệm chương trình đào tạo. Qua phân tích nguồn gốc thuật ngữ CTĐT ở các nước trên thế giới cũng như phân tích nội hàm của khái niệm, tác giả lựa chọn định nghĩa về CTĐT theo Nghị định số 43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật giáo dục: “CTĐT là văn bản cụ thể hóa mục tiêu giáo dục, quy định phạm vi mức độ, cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức họat động giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo Luận văn cao học - 14 - Học viên: Đinh Thị Hải Hà GVHD: TS. Lê Thượng Hiền Trường Đại học Bách khoa Hà Nội dục đối với các môn học ở mỗi lớp và toàn bộ một bậc học, cấp học, trình độ đào tạo. Quan điểm về đào tạo theo nhu cầu xã hội.
Quan điểm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội ở nước ta đã xuất hiện từ rất lâu. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung Ương Đảng khoá VII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996), Đảng ta đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao dân trí và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực đào tạo trong những năm tiếp theo là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH – HĐH)”.
Hay trong bài phát biểu của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tại Hội nghị giáo dục đào tạo (năm 1996): “Ở thời đại CNH – HĐH hiện nay sự phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH) trước mắt và tương lai đòi hỏi cấp bách những năng lực mới như năng lực thích ứng với sự thay đổi, năng lực tư duy độc lập, năng lực tự học và tự cập nhập thường xuyên kiến thức mới, năng lực sáng tạo và nâng cao sự cạnh tranh của nền kinh tế … đó là những năng lực cần thiết để tìm ra những cách làm rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với các nước đi trước nhằm đạt mục tiêu CNH – HĐH. Để có được những năng lực đó thì ngay từ bây giờ các trường, các cơ sở đào tạo phải chuyển hướng đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu của xã hội, hướng giáo dục đào tạo phải trở thành một hệ thống mở: mở đối với đại chúng, mở đối với thực tế kinh tế xã hội, mở đối với thế giới và thời đại có như vậy chúng ta mới có thể hy vọng trong tương lai không xa chúng ta có được nguồn lao động đáp ứng được các yêu cầu của xã hội”. Bên cạnh những quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước thì sự phát triển của thị trường ngày một nhanh chóng cũng đòi hỏi phải có một phương thức giáo dục mới ra đời thay thế cho phương thức giáo dục cũ còn nhiều hạn chế để tạo ra một nguồn lao động vừa mạnh về số lượng vừa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng. Cụ thể là: - Sự hình thành những ngành nghề mới đã đặt ra những yêu cầu mới đối với lực lượng lao động, đòi hỏi người lao động phải được đào tạo, đào tạo lại hoặc thường xuyên bồi dưỡng theo những chương trình được cá biệt.
Luận văn cao học - 15 - Học viên: Đinh Thị Hải Hà GVHD: TS. Lê Thượng Hiền Trường Đại học Bách khoa Hà Nội - Do điều kiện sản xuất kinh doanh, do môi trường hoạt động của các loại lao động, các doanh nghiệp và cá nhân người lao động có những nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng rất riêng biệt, thường đòi hỏi phải có những chương trình được thiết kế riêng. Đối với cá nhân người lao động, các yếu tố chủ quan và kỳ vọng phát triển cá nhân cũng đòi hỏi được đáp ứng bằng những chương trình đào tạo, bồi dưỡng riêng biệt. - Thị trường lao động ngày càng hoàn thiện và có quy mô rộng hơn.
Nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia, mà đã vươn ra phạm vi quốc tế. Cùng với sự phát triển của thị trường này, sức ép đối với người lao động cũng tăng lên, đòi hỏi họ phải không ngừng được đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng để chuẩn bị cho bước phát triển tiếp hoặc khi chuyển sang công việc khác - Sự luân chuyển ngày càng nhanh và với quy mô ngày càng rộng làm nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng trở nên ngày càng lớn. Xuất phát từ trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng khác nhau, sự chuyển đổi kiến thức, kỹ năng của các cá nhân, nhóm người lao động khác nhau sẽ khác nhau, khiến các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cũng phải đa dạng để có thể đáp ứng để có thể đáp ứng được những yêu cầu này. - Bản thân người lao động có những điều kiện, đặc điểm riêng khiến cho họ có những trình độ chuyên môn, tay nghề khá khác nhau dù có cùng một điểm xuất phát giống nhau về đào tạo cơ bản, về môi trường và điều kiện làm việc… Do đó, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của mỗi người sẽ ngày càng khác biệt.
Khái niệm về đào tạo theo nhu cầu xã hội: Hiện nay, khái niệm đào tạo theo nhu cầu xã hội còn nhiều tranh luận và chưa thống nhất. Có quan điểm cho rằng: Đào tạo theo nhu cầu xã hội gồm: Đào tạo theo nhu cầu của Nhà nước, các địa phương, nhu cầu của người sử dụng lao động và nhu cầu của người học. Song cũng có quan điểm cho rằng: Đào tạo theo nhu cầu là phương thức tổ chức đào tạo ngắn hạn. Theo cách nhìn nhận của tác giả, xin nêu ra các khái niệm sau về đào tạo theo nhu cầu: Đào tạo theo nhu cầu xã hội là phương thức đào tạo mà ở đó các câu hoi: “Đào tạo cái gì?”, “Đào tạo như thế nào?”, “Đào tạo bao nhiêu?” được định hướng bởi nhu cầu đào tạo xã hội.
“Đào tạo cái gì?”: Trả lời được câu hỏi này chúng ta sẽ xác định được mục đích của đào tạo. Khi tiến hành đào tạo chúng ta phải xác định được cụ thể rõ xã hội Luận văn cao học - 16 - Học viên: Đinh Thị Hải Hà GVHD: TS.