PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lượng từ tiếng Hán, loại từ tiếng Việt là một nhóm từ khá đặc biệt trong hệ thống từ vựng của hai ngôn ngữ tiếng Hán và tiếng Việt. Do đó, đã có không ít các nghiên cứu về nhóm từ này ở các cấp độ, phương diện khác nhau. Những nghiên cứu này đã đóng góp không nhỏ vào việc hoàn thiện lí luận Lượng từ tiếng Trung cũng như Loại từ tiếng Việt, làm sáng tỏ bản chất của lớp từ đặc biệt này, tuy nhiên do tính chất phức tạp trong đặc trưng ngữ pháp, tính đa dạng trong đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng nên nghiên cứu đối chiếu hai nhóm từ này vẫn có những không gian cần các nghiên cứu sau này tiếp tục đi sâu làm sáng tỏ.
Tại Trường Đại học Thương mại, học phần Ngữ pháp học tiếng Trung Quốc được đưa vào giảng dạy từ năm học 2018 – 2019 đến nay, trong đó nội dung Lượng từ là một phần kiến thức quan trọng trong nội dung của học phần. Trong quá trình giảng dạy, tác giả nhận thấy rằng, sinh viên thường mắc nhiều lỗi sử dụng Lượng từ. Ngoài các lỗi phổ biến như dùng sai Lượng từ, dùng thiếu Lượng từ, xác định không chính xác vị trí của Lượng từ ., sinh viên còn thực sự lúng túng trước nhiều tình huống sử dụng của Lượng từ. Ví dụ: cùng danh từ 花 – hoa, nhưng lúc có thể dùng lượng từ 朵 – bông để định lượng, song đôi lúc lại cần sử dụng lượng từ 束- bó , hoặc 枝- cành,thậm chí 棵 – cây.
Hoặc cùng là các danh từ chỉ động vật, nhưng với 猴子 – con khỉ cần dùng Lượng từ 只, với 山羊 – dê núi, 小猪 – lợn cần dùng Lượng từ 头 , với 蛇 – rắn phải dùng lượng từ 条. Sự phong phú trong cách sử dụng Lượng từ khiến nhiều người học cảm thấy bối rối. Hoặc cách sử dụng Lượng từ lặp lại trong các tình huống như “一件件往事浮现在他眼前 – từng sự việc trong quá khứ cứ hiển hiện trước mắt anh ấy, 这些姑娘们,个个都很出息 – Các cô này, cô nào cũng rất có triển vọng” cũng dễ gây khó hiểu ở sinh viên. Việc người học mắc lỗi khi sử dụng Lượng từ trong khi nói, giao tiếp hoặc viết văn bản tiếng Trung ở các học phần tiếng Trung tổng hợp cũng như ở học phần Ngữ pháp học tiếng Trung là khá phổ biến.
Theo thống kê của chúng tôi, sau khi học xong giáo trình Hán ngữ 2, sinh viên được làm quen với 23 Lượng từ cơ bản, nhưng khi bước sang học phần Ngữ pháp học, số lượng 2 Lượng từ tăng lên là 70 Lượng từ, số lượng câu chứa Lượng từ cũng tăng từ 90 câu lên 337 câu ( phụ lục 1), đi kèm với đó là các cách dùng khó của Lượng từ. Mặt khác, trong quá trình giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc tại Trường Đại học Thương mại, tác giả cũng phát hiện ra rằng, sinh viên Trung Quốc cũng gặp không ít khó khăn khi sử dụng Loại từ trong tiếng Việt. Cùng là cụm từ “一个农民”, sinh viên Trung Quốc thường đặt câu hỏi tại sao trong tiếng Việt lại được biểu đạt bằng các cách khác nhau như “ một người nông dân, một anh nông dân, một bác nông dân.” ? Tất cả những vấn đề trên của người học đều bắt nguồn từ những hiểu biết chưa đầy đủ về kiến thức Lượng từ tiếng Trung cũng như loại từ tiếng Việt. Lượng từ tiếng Hán được người học tiếp xúc khá sớm, và cũng là trọng tâm trong giảng dạy từ vựng thuộc học phần Ngữ pháp học tiếng Trung Quốc.
Tuy nhiên do ấn tượng ban đầu về Lượng từ của người học chỉ đơn giản là nhóm từ dùng để định lượng cho danh từ, trong khi đó, đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của Lượng từ khá phức tạp, số lượng lại không hề nhỏ, phạm vi sử dụng rộng, tần suất sử dụng cao nên càng học các học phần, kiến thức cao hơn, người học lại càng cảm thấy mở hồ về cách dùng của nó. Từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đối chiếu Lượng từ trong tiếng Trung và Loại từ trong tiếng Việt trong học phần Ngữ pháp học tiếng Trung Quốc”. Nghiên cứu không chỉ có giá trị tham khảo về mặt lí luận mà còn góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy kiến thức Lượng từ nói riêng và học phần Ngữ pháp học tiếng Trung Quốc nói chung tại trường Đại học Thương mại. Tổng quan nghiên cứu về đề tài Lượng từ tiếng Trung và Loại từ tiếng Việt là từ loại đặc trưng riêng có của các ngôn ngữ thuộc hệ Hán – Tạng như tiếng Trung và tiếng Việt.
Do đó, hai từ loại này từ lâu đã trở thành nội dung quan trọng trong lịch sử nghiên cứu Hán ngữ học và Việt ngữ học gắn liền với quá trình phát triển của hệ thống ngữ pháp mà trước hết là hệ thống từ loại của hai ngôn ngữ này. Tình hình nghiên cứu Ngoài nước Với tư cách là ngôn ngữ mẹ đẻ, tiếng Trung cũng như hệ thống ngữ pháp tiếng Trung trong đó Lượng từ - nội dung nghiên cứu rất thú vị được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Hán ở Trung Quốc cũng như các nước, khu vực có người Hoa sinh sống trên thế giới tiến 3 hành khảo sát, nghiên cứu khá rộng rãi. Có thể thấy các nghiên cứu này tập trung ở các hướng sau: (1) Nghiên cứu Lượng từ tiếng Trung như một hiện tưởng ngôn ngữ bản thể, những nghiên cứu này đi sau vào mô tả, phân tích, khái quát và hệ thống hoá các khía cạnh ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ của Lượng từ. Nghiên cứu “现代汉语量词研究”(2008),何杰, 北京语言大学出版社 – Nghiên cứu Lượng từ tiếng Hán hiện đại ( 2008) tác gỉả Hà Kiệt, Nhà xuất bản Đại học ngôn ngữ Bắc Kinh [24] có phạm vi rất rộng với 789 Lượng từ trong tiếng Hán hiện đại được thống kê.
Trên cơ sở đó, tác giả đã tiến hành khảo sát, phân tích các vấn đề lớn nổi bật của Lượng từ bao gồm: quá trình phát triển Lượng từ, vấn đề tiêu chí phân loại và các cách phân loại Lượng từ, đặc điểm ngữ pháp, đặc trưng ngữ nghĩa của Lượng từ, các vấn đề gây tranh cãi ở Lượng từ. Thành tựu nổi bật của nghiên cứu là đã xây dựng được một bức tranh tổng thể về Lượng từ, ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra những lí giải hợp lý về các vấn đề gây tranh cãi ở Lượng từ như Lượng từ trùng điệp, ý nghĩa tình thái, ý nghĩa miêu tả của Lượng từ. Trong nghiên cứu “现代汉语量词研究综述 ( 1997), 王冬梅,扬州大学学报 (人 文社会科学版) – Tổng quan nghiên cứu về Lượng từ tiếng Hán hiện đại” , (2013) của tác giả Vương Đông Mai, Tạp chí Đại học Dương Châu ( bản khoa học xã hội nhân văn) [41] đã xem xét đến các khía cạnh như vấn đề tên gọi của Lượng từ, phân loại Lượng từ, vấn đề kết hợp giữa Lượng từ và các từ loại khác, chức năng tu sức của Lượng từ. Theo đó, tác giả cho rằng, việc xếp Lượng từ là một loại danh từ đặc biệt như các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đầu thế kỷ XX như Vương Lực, Lê Cẩm Hy, Lã Thúc Tương.
khá bất hợp lý, bởi nhóm từ này có những đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa khác biệt không có ở danh từ. Tác giả đồng ý với quan điểm định danh là Lượng từ và quy loại thành một loại từ riêng biệt, độc lập của Chu Đức Hy, Lưu Thế Nho. Về vấn đề phân loại Lượng từ, dựa trên tiêu chí khả năng kết hợp với các loại từ khác, tác giả chia Lượng từ làm hai nhóm lớn: danh Lượng từ và động Lượng từ. Về vấn đề chức năng tu sức của Lượng từ, tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau trong đó nổi bật là khả năng kết hợp với danh từ.
Có thể thấy, những nghiên cứu có phạm vi rộng như trên đều khẳng định Lượng từ là từ loại có số lượng lớn, phạm vi ứng dụng rộng, hầu hết các cụm danh từ khi cần định 4 lượng đều cần phải kết hợp với Lượng từ; chức năng ngữ pháp và đặc điểm ngữ nghĩa của Lượng từ khá phức tạp: từ góc độ ngữ pháp, Lượng từ làm kết cấu danh từ trở nên chặt chẽ khoa học, từ góc độ ngữ dụng, Lượng từ giúp người nói dễ dàng biểu đạt các ý nghĩa tình thái, miêu tả, hình tượng hoá, tu từ hoá. Ngoài ra phải kể đến một lượng lớn các nghiên cứu tập trung vào đối tượng nghiên cứu là một nhóm Lượng từ hoặc một Lượng từ cụ thể có tần xuất sử dụng cao trong tiếng Trung. Có thể kẻ đến các nghiên cứu như “现代汉语量词“张”的研究,(2015)秦志 明,沈阳师范大学 硕士论文 -nghiên cứu Lượng từ ‘zhang’ trong tiếng Hán hiện đại ( 2015), tác giả Tần Chí Minh, luận văn thạc sỹ Đại học sư phạm Thẩm Dương [34]; 汉语 量词“种”的研究,(2020),谭佳慧,渊南师范大学 – Nghiên cứu Lượng từ ‘zhong’ trong tiếng Hán ( 2020), tác giả Đàm Gia Huệ, luận văn thạc sỹ Đại học sư phạm Uyên Nam [38]; 现代汉语量词“只”的认知研究(2016)史天冠,黑龙江教育学院学报 – Nghiên cứu Lượng từ ‘zhi’ trong tiếng Hán hiện đại ( 2016), tác giả Sử Thiên Quan, Tạp chí Học viện Giáo dục Hắc Long Giang [36]. Điểm chung của những nghiên cứu này là do phạm vi nghiên cứu hẹp, nên nghiên cứu đi sâu vào các phương diện như tiến trình phát triển, các đặc điểm sử dụng, đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng từ các góc độ khác nhau như nghiên cứu đồng đại, nghiên cứu nghịch đại, nghiên cứu tri nhận, từ đó quy nạp và hệ thống hoá toàn bộ đặc trưng ngữ pháp liên quan đến Lượng từ hoặc nhóm Lượng từ.
Mặt khác các nghiên cứu thuộc loại này còn tiến hành so sánh đối chiếu với các Lượng từ có cùng điểm tương đồng đồng trong cách sử dụng, ngữ nghĩa để làm nổi bật những đặc trưng riêng có của Lượng từ nghiên cứu. Nghiên cứu “现代汉语个体量词语法特点的认知研究”(2001),范伟,南京 师范大学学文院学报 – Nghiên cứu tri nhận đặc điểm ngữ pháp của nhóm Lượng từ cá thể trong tiếng Hán hiện đại ( 2001), tác giả Phạm Vĩ, Tạp chí ngữ Văn Đại học sư phạm Nam Kinh [22] cũng đã tổng kết và kiến giải rất rõ ràng, chi tiết đặc điểm chung của nhóm từ cá thể là: (1) bắt buộc phải được sử dụng trong cụm danh từ, ( 2) việc có hay không có chữ “de” trong cụm danh – Lượng từ cá thể chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ mật thiết giữa các thành phần biểu thị khái niệm, (3) việc cụm từ (Số từ + Lượng từ) có thể thêm tính từ 5 vào giữa phản ánh đặc điểm hoạt động của chuỗi nhận thức trong bộ não con người, (4) Lượng từ cá thể được trùng điệp là nhu cầu thể hiện ý nghĩa gia tăng của khái niệm.