CHƯƠNG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. TONG QUAN VE BEO TAM Theo Landolt (1986), Bèo tắm thuộc giới thực vật, nginh Magnoliophyta, lớp Liliopsida, bộ Arales, họ Lemnaccac, gồm cdc chi Lemna, Spirodela, Wolffia, Wolffiella với trên 40 loài khác nhau. Năm 2002, Les và cộng sự đã dựa trên đặc điểm về hình thái, nhiễm sắc thể và vi phân tử (DNA của nhân và lục lạp) đề ra giả thiết về cây phân loại của bèo tắm gồm có 5 chỉ tức là thêm một chỉ mới là Landoltia (Les va es, 2002) Béo tấm là nhóm thực vật một lá mầm thủy sinh có cấu trúc cơ thể vô cùng đơn giản gồm lá, thân có độ phân hóa thấp va r8 (Spirodela, Landoltia, Lemna) hoặc không có rễ (IoJ/jiella và IoJƒjìa) [1]. Đa số bèo tắm có cánh mỏng giống lá được gọi là “rond” (cánh bèo).
Một số loài có cánh không det do có xoang khí lớn. Cánh bèo có hình ovan (hay tròn) dài tới 1,5 em và rộng tới 1 em (S. Loài nhỏ nhất có cánh đạt kích thước 3 mm ở điều kiện tối ưu. Ở điều kiện thường có thể nhỏ hơn 1 mm.
Kích thước và hình đạng của cánh bèo phụ thuộc nhiều vào các điều kiện bên ngoài và kiểu gen của chúng. Các yếu tố ngoại cảnh này bao gồm: ánh sáng, hàm lượng đường, hàm lượng nitơ, phospho, kali, canxi và magie, nhiệt độ. Từ cách đây 30 năm, các nhà khoa học đã phát hiện ra sự có mặt của bèo tắm ở tất cả các châu lục, trừ các địa cực. Đặc điểm đó thể hiện khả năng thích nghỉ của bèo tắm với các vùng khí hậu khác nhau mà không có sự sai khác đáng kể về kiểu hình [31] [32], nhưng phỏ biến và đa dạng nhất là ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Còn ở các vùng ôn đới và hàn đới thì chúng chủ yếu phát triển mạnh trong các tháng hè. Bèo tắm thường xuất hiện ở các khu vực nước đọng hoặc có dòng chảy chậm. Sự tăng trưởng nhanh thường được ghi nhận ở các ao hồ nhỏ, đầm lầy vì đây là những khu vực có nguồn đỉnh dưỡng dồi dào. Một vài loài cũng tồn tại trong môi trường nước.
Bèo tắm có hai hình thức sinh sản chính: sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính. Sinh sản vô tính chiếm ưu thế so với sinh sản hữu tính. Ở điều kiện sinh trưởng tối ưu (về nhiệt độ nước, pH, chiếu sáng, nguồn dinh dưỡng), bèo tắm có thể tăng gấp đôi sinh khối trong vòng 16-24 giờ. Hình thức sinh sản hữu tính của bèo tắm chỉ xảy ra khi chúng gặp điều kiện bắt thuận để bảo tồn nòi giống (Landolt, 1986; Landolt va Kandeler, 1987).
Bèo tắm phát triển trong nước ngọt với nồng độ chất dinh dưỡng cao và độ pH từ 5 đến 9, tối ưu giữa 6.5, và nhiệt độ từ6 đến 33 ° C. Chúng sử dụng chất hữu cơ và muối khoáng trong môi trường làm thức ăn. Hơn nữa sự vận chuyển và tiêu thụ thức ăn của bèo thông qua phần rễ. Vì vậy chúng rất dễ mẫn cảm với sự thay đổi của hệ sinh thái nước, nếu trong môi trường nước có độ nhiễm bẩn hoặc chứa các chất có độc tính nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đế: phát triển của bèo thông qua sự thay đổi hình thái bên ngoài của chúng.
hiệu của độc tính có thể quan sát trên cánh bèo. Nó bao gồm sự phân tán, mắt màu (xung quanh cánh bèo), úa héo (màu vàng), lụi ( màu nâu - chết) và bị thui chột. Rễ cây bị ảnh hưởng của chất độc trong nước, mắt thăng bằng sinh lý thể hiện ở sự giảm chiều dài của rễ ở cây trưởng thành. Ở mức độ độc hại nhất định đầu rễ có xu hướng cong lại [21] [38] Với nhiều thuộc tính như kích thước nhỏ, cấu trúc tương đối đơn giản, thời gian thế hệ ngắn Bèo tắm đã trở thành loài chỉ thị hiệu quả với các thử nghiệm độc học sinh thái và giám sát chất lượng nước trong phòng thí nghiệm của nhiều nước trên thế giới [21] Sự phân bố của các chất ô nhiễm trong môi trường, nhập cảnh, chuyển động, lưu trữ và chuyển đổi của chúng trong môi trường.
“ Những ảnh hưởng của chất gây ô nhiễm vào các sinh vật sống. v Ở cấp độ cá thể, các chất độc hại có thể phá vỡ cấu trúc sinh hóa, phân tử và chức năng sinh lý mà lần lượt sẽ có hậu quả đối với các cấu trúc và chức năng của các quân xã và các hệ sinh thái. Y Ở cấp độ quần thể thì có thể phát hiện những thay đổi về số lượng của các cá thể hoặc thay đổi chức năng hệ sinh thái mà nguyên nhân do ô nhiễm. Thử nghiệm độc học sinh thái là gì Thử nghiệm độc học sinh thái là việc sử dụng sinh vật chỉ thị (có tính nhạy cảm cao) để tiếp xúc với môi trường nước, trầm tích hoặc đất và đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm lên sự tồn tại, phát triển, sinh sản, hành vi hoặc các thuộc tính khác của các sinh vật.
Những thử nghiệm này có thể giúp xác định xem liệu nồng độ chất ô nhiễm trong môi trường của khu vực đó có đủ cao để gây ra các tác động bắt lợi cho sinh vật [42]. Thử nghiệm độc học sinh thái có giá rẻ, đáng tin cậy và dễ dàng đẻ thực. hiện, có thể đóng góp vào việc đánh giá rủi ro sinh thái bằng những cách cụ thể và ở các giai đoạn khác nhau trong đánh giá. Một loạt các bài thử nghiệm độc học sinh thái được yêu cầu cho các ngành công nghiệp hóa chất, hóa chất nông nghiệp và dược phẩm.
Các thử nghiệm thường được sử dụng bao gồm: * Thử nghiệm độc tính của vi khuẩn; */ Kiểm tra tăng trưởng của tảo với một loạt các loài; Y Thir nghiém d6c tinh c4p tinh véi Lemna minor; ¥ Kiém tra cp tinh va sinh san 6 Daphnia magna; * Thử nghiệm độc tính cấp tinh với giáp xác Acartia biển; v Kiểm tra độc tính cấp tính với các loài không xương sống biển Mysidopsis bahia; * Thử nghiệm độc tính với giun đất; * Các thử nghiệm độc tính trằm tích với sinh vat nhu Chironomus ho&c Lumbriculus; * Thử nghiệm độc tính cắp tính với cá nước ngọt và cá biển. Sinh vật chỉ thị sử dụng đánh giá độc học sinh thái Chỉ thị sinh học có thể là một loài hoặc một nhóm sinh vật có khả năng cảnh báo ô nhiễm thông qua những biểu hiện bắt thường trong quá trình phát triển của chúng, ở các ngưỡng nồng độ mà các phương pháp hóa lý khó có thể xác định được [25] Sinh vật chỉ thị mẫn cảm với các điều kiện sinh lý và sinh hóa, nghĩa là chúng hoặc hiện diện hoặc có những phản ứng khác thường hoặc thay đổi số lượng cá thể khi môi trường bị ô nhiễm hay môi trường sống bị xáo trộn. Các sinh vật chỉ thị môi trường khác nhau có thẻ xếp thành các nhóm theo những. tiêu chí như: *⁄ Tính nhạy cảm là các loài mẫn cảm đặc trưng có những phản ứng khác thường với những điều kiện môi trường không thích hợp có thể sử dụng như là công cụ cảnh báo sớm; * Như một công cụ thăm dò là những loài xuất hiện tự nhiên trong môi trường có thể dùng đo đạc sự phản ứng và thích nghỉ đối với sự thay đổi của môi trường; */Như một công cụ khai thác là các loài có thể chỉ thị cho sự xáo trộn hay ô nhiễm môi trường; Như một công cụ tích lũy sinh học là các loài tích lily sinh học bao.
gồm hóa chất trong mô của chúng; * Các sinh vật thử nghiệm là các sinh vật chọn lọc đôi khi có thể được sử dụng như là các chất trong thí nghiệm để xác định sự hiện diện hoặc nồng, độ các chất ô nhiễm [8] Vay sinh vat chỉ thị là những sinh vật được đánh giá là “nhạy cảm nhất”, chúng đại điện cho các bậc dinh dưỡng khác nhau, có những biểu hiện phản ứng có thể quan sát và đo được đối với ô nhiễm. Và theo logic là nếu một ô. nhiễm không độc hại đến loài “nhạy cảm nhất” thì sẽ được an toàn cho phần còn lại của quần xã. Yêu cầu đối với sinh vật sử dụng để đánh giá độc học sinh thái Việc lựa chọn sinh vật để đánh giá độc học sinh thái trước hết cần xác định sinh vật đó dùng chỉ thị cho cái gì? Chúng phải phù hợp với các mục đích nghiên cứu như giám sát, quản lý chất lượng môi trường hay cảnh báo các nguy cơ của hệ sinh thái.
Để chọn được các loài sinh vật chỉ thị phải cân nhắc về tính mẫn cảm và khả năng phơi nhiễm của chúng đối với chất gây ô nhiễm, đồng thời cần xem xét các yếu tố về vị trí của chúng trong quân xã, sự phân bố địa lý và mức độ phong phú trong tự nhiên. Các phản ứng ở mỗi cấp độ khác nhau phụ thuộc vào sự thay đổi các điều kiện môi trường. Ở cấp thấp nhất (cá nhỏ), các phương pháp phân tích và thử nghiệm độc học được sử dụng để đánh giá những phản ứng sinh học do sự xáo trộn môi trường, cung cấp thông tin nhanh chóng và chính xác [14]. Trong khi đó, ở cắp độ quần xã và hệ sinh thái, do có sự liên quan chặt chẽ giữa các mắt xích nên các phản ứng chậm và thường không chính xác, lúc này sinh vật biểu hiện các ảnh hưởng tác động tổng hợp của sự xáo trộn môi trường hay căng thẳng lên hệ sinh thai.
Hanh vi của sinh vật phản ứng với sự căng thẳng bằng nhiều cách, bao gồm sự ức chế sinh trưởng, vận động, dẫn truyền thần kinh, thay đổi các enzym huyết thanh, kích thích tố và chuyển hóa năng lượng [20]. Sự thay đổi hành vi của sinh vật liên quan đến áp lực và tiếp xúc với độc tố cung cấp thông tin mới mà không, thể được thu được từ phương pháp độc học truyền thống, được thể hiện tính toán bằng các hiệu ứng ức chế tốc độ sinh trưởng đối với độc tính mãn tính và hiệu ứng tiếp xúc gây chết đối với độc tính cấp tính. Do đó, các điểm cuối hành vi có thể nhạy cảm như các chỉ số sinh hóa và lý học, được sử dụng thích hợp trong đánh giá rủi ro độc học sinh thái.