MỞ ĐẦU Vàng nano là một trong những vật liệu kích thƣớc nano đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc bởi những tính chất quang học độc đáo của chúng, đặc biệt là hiện tƣợng cộng hƣởng plasmon bề mặt (Surface Plasmon Resonance, SPR) và những ứng dụng to lớn của chúng trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ xúc tác, điện hoá cảm biến sinh học, khuếch đại tán xạ Raman bề mặt (Surface Enhanced Raman Scattering, SERS). Một đặc điểm rất thú vị của hạt vàng nano là sự thay đổi màu sắc gây ra do hiệu ứng plasmon cộng hƣởng bề mặt, cụ thể là sẽ chuyển từ màu vàng sang đỏ tía, màu tím hoặc màu xanh phụ thuộc vào kích thƣớc hình thái và khoảng cách giữa các hạt. Acetamiprid là một hợp chất hữu cơ với công thức hoá học C10H11ClN4. Acetamiprid là hoạt chất thuộc nhóm neonicotinoid không mùi đƣợc sản xuất với tên thƣơng mại là Assail và Chipco của Aventis CropSciences, có tác dụng phòng trừ và kiểm soát các loại côn trùng chích hút trên các loại cây trồng nhƣ rau ăn lá, trái cây, cây cảnh,…Tuy nhiên, hiện nay dƣ lƣợng acetamiprid trong nhiều loại cây trồng, trái cây có thể gây ra nhiều tác dụng xấu đối với sức khoẻ con ngƣời.
Acetamiprid chủ yếu tác động đến hệ thần kinh trung ƣơng gây chóng mặt nhức đầu, nặng hơn có thể bị kích động, co giật và hôn mê. Vì vậy, việc xác định dƣ lƣợng acetamiprid là rất cần thiết để bảo vệ sức khoẻ con ngƣời. Do đó, hiện nay nhiều nghiên cứu khoa học hƣớng tới các phƣơng pháp xác định hàm hƣợng acetamiprid một cách nhanh nhất, nhạy nhất và chính xác nhất. Có rất nhiều phƣơng pháp đƣợc sử dụng để xác định hàm lƣợng của acetamiprid nhƣ quang phổ, sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), sắc ký lỏng ghép nối khối phổ (LC/MS), sắc ký khí (GC), điện hóa, phƣơng pháp phân tích dòng chảy (FIA), phƣơng pháp phổ huỳnh quang,… tuy nhiên các phƣơng pháp này có một số nhƣợc điểm nhƣ thiết bị đắt tiền, hoạt động phức tạp, đòi hỏi phải xử lí mẫu,… Việc phát triển một phƣơng pháp đơn giản, nhanh và hiệu quả về chi phí để xác định acetamiprid là rất cần thiết.
Phƣơng pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV- Vis là phƣơng pháp đƣợc quan tâm nghiên cứu do có độ nhạy và độ chính xác khá 1 Luận văn Thạc sĩ – Lê Thị Thảo cao, quy trình phân tích đơn giản, không tốn kém về hóa chất và trang thiết bị. Dựa trên khả năng acetamiprid có thể làm thay đổi các tính chất plasmon bề mặt của hạt nano vàng từ đó làm thay đổi màu sắc của dung dịch, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu ― Nghiên cứu xác định thuốc bảo vệ thực vật Acetamiprid bằng phƣơng pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-Vis sử dụng dung dịch nano vàng đƣợc ổn định bằng polyme điện tích dƣơng PDADMAC‖. Trong nghiên cứu này, các hạt 0 nano vàng đƣợc tổng hợp bằng cách khử HAuCl4 về Au bằng NaBH4, và đƣợc ổn định bằng các polyme tích điện dƣơng (polycation) PDADMAC thay vì sử dụng chất ổn định truyền thống là citrate nhằm nâng cao độ nhạy của phƣơng pháp phân tích. Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên sử dụng hệ PDADMAC-AuNPs để xác định acetamiprid bằng phƣơng pháp phổ hấp thụ phân tử UV-Vis.
2 Luận văn Thạc sĩ – Lê Thị Thảo PHẦN 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung về acetamiprid 1. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam Hiện nay, nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng tăng cả về số lƣợng và chủng loại. Theo Cục Bảo vệ thực vật – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2013), số lƣợng và giá trị nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) của nƣớc ta đều tăng lên trong thời gian qua.
Trƣớc năm 1990, lƣợng thuốc BVTV nhập khẩu quy đổi thành phẩm là 13.000 tấn, giá trị khoảng 10 triệu USD, đến năm 2012 số lƣợng và giá trị nhập khẩu đã tăng lên 103.500 tấn với khoảng 700 triệu USD. Sang năm 2013, cụ thể là 11 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu là 695,5 triệu USD, tăng 10,99 %. Sau cách mạng xanh, việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học cho cây trồng ngày trở nên phổ biền và dần trở thành tập quán canh tác của hầu hết nông dân [3]. Trƣớc những năm 1990, thuốc trừ sâu chiếm khoảng 83,3 % tổng lƣợng thuốc (BVTV) nhập khẩu, thuốc trừ bệnh 9,5 %, thuốc trừ cỏ dƣới 4 %, thuốc khác 3,1 %; đến năm 2012, thuốc trừ sâu chỉ chiếm 20,4 %, thuốc trừ bệnh 23,2 %; thuốc trừ cỏ tăng lên 44,4 %; các thuốc khác chiếm 12 % so với tổng khối lƣợng thuốc nhập khẩu.
Việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu ở các vùng nông nghiệp là không đồng đều, phụ thuộc vào mức độ phát sinh, gây hại của các dịch bệnh hại cây trồng và tập quán canh tác của ngƣời dân [3]. Ngoài những hiện trạng nêu trên, việc sử dụng thuốc trừ sâu không đúng kỹ thuật cũng khá phổ biến hiện nay. Sử dụng thuốc trừ sâu không đúng kỹ thuật, lạm dụng thuốc trừ sâu đã khiến cho các loài sâu bệnh nhờn thuốc, kháng thuốc, hại các sinh vật có lợi, … gây nên tình trạng sâu bệnh bùng phát mạnh hơn. Nhiều hộ nông dân không tuân thủ đúng quy định: sử dụng thuốc có độ độc hại cao, pha nhiều loại thuốc trong 1 lần phun, phun tăng liều lƣợng; sau khi phun thuốc chƣa đảm bảo đủ thời gian cách ly và phân hủy thuốc đã thu hoạch nông sản và bán cho ngƣời tiêu dùng diễn ra khá phổ biến.
Thực trạng trên đã gây nhiều khó khăn cho công tác 3 Luận văn Thạc sĩ – Lê Thị Thảo quản lý hoạt động kinh doanh và sử dụng thuốc trừ sâu, gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm, làm tăng chi phí sản xuất [3]. Việc kinh doanh và sử dụng thuốc trừ sâu không đúng quy định nhƣ trên đã làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trƣờng, ảnh hƣởng tiêu cực tới sức khỏe cộng đồng. Lƣợng thuốc trừ sâu đƣợc phun cây trồng hấp thụ một phần, một phần bị rửa trôi theo nƣớc mƣa ra sông, suối, ngấm sâu xuống lòng đất, một phần bị bốc hơi vào khí quyển. Nhƣ vậy ảnh hƣởng của thuốc trừ sâu đến môi trƣờng là rất lớn.
Trong môi trƣờng nông nghiệp thuốc trừ sâu cùng với phân bón hóa học là hai nhân tố chính phá hủy môi trƣờng [3]. Tính chất vật lý, hoá học của acetamiprid Acetamiprid có tên IUPAC là ((E)-N1-[(6-chloro-3-pyridyl) metyl] – N2 – cyano-N1- metylacetamdine) là thuốc BVTV neonicotinoid mới, phổ rộng đƣợc sử dụng rộng rãi để diệt côn trùng và kiểm soát các loại côn trùng trên các loại cây trồng khác nhau, đặc biệt là rau, hoa quả và cây chè. Acetamiprid có công thức phân tử là C10H11ClN4 và công thức cấu tạo nhƣ cho trong hình 1. Mặc dù đƣợc phân loại là chất không có khả năng gây ung thƣ nhƣng acetamiprid đƣợc coi là nguyên nhân gây ra co thắt đại tràng ở ngƣời [43].1: Công thức cấu tạo của acetamiprid Acetamiprid là tinh thể màu trắng, khối lƣợng phân tử M = 222,67 g/mol.
Nhiệt độ nóng chảy là 101 0C đến 103,3 0C và áp suất hơi nhỏ hơn 0,33. Acetamiprid tan ít trong nƣớc với độ hòa tan trong nƣớc là 4,2 g/l. Tan tốt trong dung môi hữu cơ nhƣ acetone, methanol, ethanol, dichlorometan, 4 Luận văn Thạc sĩ – Lê Thị Thảo chlorofome…Acetamiprid ổn định trong môi trƣờng trung tính hoặc axit, bảo quản ở nhiệt độ phòng trong khoảng 2 năm. Bị phân hủy tại pH = 9 ở 45 0C và không bị phân hủy dƣới ánh sáng mặt trời.
Cơ chế hoạt động Acetamiprid là một chất phản ứng theo cơ chế giống nicotin [31]. Các neonicotinoid hoạt động nhƣ chất chủ vận phản ứng với các thụ thể acetylcholine nicotinic (nACh-R). Những thụ thể này đƣợc đặt trong các nhánh sau của tất cả các tế bào thần kinh trong não, tủy sống, hạch và các khớp nối cơ. Việc kích hoạt các thụ thể nACh-R gây ra tăng động và co thắt cơ, dẫn đến tê liệt và cuối cùng là chết.
Acetamiprid có độc tính cao đối với côn trùng, nhƣng ít gây hại cho động vật có vú. Điều này có lẽ là do một dạng thụ thể khác ở động vật có xƣơng sống. Acetamiprid có thể sử dụng để phun, xử lý hạt giống, bón vào đất và có hiệu lực diệt trứng, các loại sâu trƣởng thành bộ Hemiptera, Lepidoptera và Thysanoptera. Hoạt chất tác động đến côn trùng thông qua con đƣờng tiếp xúc hoặc ở một mức độ thấp hơn bằng cách thấm qua lớp cutin.
Acetamiprid có hiệu lực kéo dài đến vài tuần đối với các loài rệp, rầy gây hại ở phía dƣới của lá cây. Ở nhiệt độ 25 oC thời gian bán phân hủy (DT50) của acetamiprid là 8,2 ngày đối với các loại đất háo khí. Trong các loại đất háo khí quá trình phân giải xảy ra rất nhanh nhƣng trong điều kiện yếm khí xảy ra rất chậm. Trong lớp đất mặt acetamiprid cần vài tuần cho việc phân giải một nửa lƣợng hoạt chất.
Tuy nhiên, cần tới vài tháng để rửa trôi xuống tầng đất sâu hơn hay tới lớp bùn ở bên dƣới. Acetamiprid dễ bị biến đổi trong đất và hoàn toàn bị phân giải trong các loại đất. Tuy nhiên trong nƣớc với điều kiện nhiệt độ môi trƣờng acetamiprid bền vững với quá trình thủy phân, còn quá trình quang hóa xảy ra tƣơng đối chậm. 5 Luận văn Thạc sĩ – Lê Thị Thảo 1.
Quy định về dƣ lƣợng acetamiprid trên rau quả Thông tƣ quy định giới hạn tối đa dƣ lƣợng thuốc BVTV trong thực phẩm năm 2016 [4], đã quy định rõ hàm lƣợng giới hạn tối đa dƣ lƣợng acetamiprid trong thực phẩm đƣợc sản xuất trong nƣớc và nhập khẩu (bảng 1.