Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề. Những nghiên cứu về định kién giới ở nước ngoài Có thể nói, lịch sử nghiên cứu định kiến giới xuất phát từ Khoa học giới và Tâm ly học xã hội (van đề định kiến xã hội). Những năm 70, 80 của thé kỷ XX khi mà các phong trào nữ quyền trên thế giới phát triển mạnh dan đến cuộc đấu tranh cho bình dang giới diễn ra trên một phạm vi rộng lớn, các nhà khoa học đi tìm căn nguyên, cơ chế, giải pháp.cho những bài toán về giới, mà ở đây chủ yếu là lý giải về vị trí, địa vị thấp kém của người phụ nữ so với nam giới.
Trong lich sử nghiên cứu định kiến giới ở nước ngoài, tựu chung lại có các hướng tiếp cận chính như sau: từ góc độ sinh học xã hội, từ góc độ nhân học - văn hoá, từ góc độ khoa học giới, từ góc độ Tâm lý học xã hội, một số những nghiên cứu về định kiến giới đối với những người phụ nữ làm công tác lãnh đạo. - Từ góc độ sinh học xã hội. Theo hướng này có các đại biểu: Edward Wilsion, Symons, Fauste — Sterlinh, Gould, Sapiro, Sayera, S. Cách tiếp cận nay giải thích vi thé thấp kém của người phụ nữ trong tương quan với nam giới dựa trên những khác biệt về cơ thể học và nguồn gien.
Theo đó, các nhà sinh học xã hội tìm kiếm câu trả lời cho sự khác biệt về vai trò xã hội giữa phụ nữ và nam giới từ nguyên nhân sinh học. Chắng hạn, tính hung hăng của đàn ông và chức năng sinh đưỡng của đàn bà là kết quả của những dị biệt đi truyền (Wilson, 1978). Hoặc việc “đàn ông năm thê, bảy thiép”,“dan bà chính chuyên chỉ có một chồng” cũng chi là kết quả phù hợp với “tiếng gọi của gien” (Symons, 1979). Vào những năm 80 của thế kỷ XX, một sé người đã van dung học thuyết “Chọn lọc tự nhiên và đấu tranh sinh tồn” của Darwin trong đời sống xã hội, từ đó, xuât hiện niêm tin cho răng chỉ có những kẻ mạnh, những kẻ ưu Cao học K2004-2007 5 Nguyễn Thị Thịnh Luận văn thạc sĩ khoa học việt.mới xứng đáng ton tại.
Đó là kết qua tất yếu của quá trình “chon lọc xã hội”. Vì vậy, địa vị thấp kém và tình trạng bị áp bức, bóc lột, bị kỳ thị của những nhóm xã hội yếu thế hơn như: nhóm phụ nữ, nhóm người da đen.là điều hoàn toàn dé hiểu (Fauste — Sterlinh 1985, Gould 1981, Sapiro 1986, Sayera 1982). Nhưng không phải cho đến những năm 70 của thé ky XX, quan điểm quyết định luận sinh học mới được đặt ra mà nó được manh nha từ rất sớm, tuy còn rời rac. Trong những thư tịch cỗ của Aristotle, người ta cũng tìm thấy những lý thuyết “tương tự ”.
Theo ông, nữ giới là người không có linh hồn và do nhược điểm về cơ thé nên phụ nữ yếu kém về năng lực, tính khí thất thường và không có khả năng đưa ra những quyết định chính xác. Ngược lại, đàn ông là những người có sức mạnh thé chất vượt trội, tư chat sắc bén nên xứng đáng là những người chiếm ưu thế và sinh ra để thống trị đàn bà. Freud thì cho rằng: Giải phẫu của người phụ nữ quyết định số mệnh của họ. Theo ông, những đặc điểm nam tính mới là những đặc điểm mang tính Người đầy đủ, còn khái niệm nữ tính là một con người lệch lạc do thiếu dương vật.
Vì thế, toàn bộ cấu trúc tâm lý của phụ nữ xoay quanh van đề dau tranh dé đền bù sự thiếu hụt. Như vậy, các nhà sinh học xã hội đã chấp nhận sự yếu kém của người phụ nữ so với nam giới và coi đây là sự mặc định sinh học. Cho đến nay, quan điểm này không được sự ủng hộ rộng rãi của giới khoa học. Hầu hết các nhà khoa học xã hội quan niệm đặc tính sinh học không phải là yếu tố quyết định số mệnh.
Trên thực tế thì có sự khác biệt sinh học giữa phụ nữ và nam giới, nhưng sự khác biệt đó không phải là cơ sở cho sự phân biệt đăng cấp mà ở đó người đàn ông là người thống trị. Bởi lẽ, con người tiến hoá về mặt văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật nhanh hơn rất nhiều so với những tiến hoá về mặt sinh học, cho nên sự khác nhau căn bản thuộc về yếu tố sinh lý có thé tăng lên hoặc giảm đi bởi các ảnh hưởng xã hội. Cao học K2004-2007 6 Nguyễn Thị Thịnh Luận văn thạc sĩ khoa học - Từ góc độ nhân học văn hoá Theo hướng này có các nghiên cứu cua: Sherry Ortner, Michelle Rosaldo, Christine Helliwell. Cách tiếp cận giới từ góc độ nhân học văn hoa quan tâm nhiều nhất là vị thế của người phụ nữ trong tương quan với nam giới.
Sự gia tăng tính phô biến trong lĩnh vực nghiên cứu này trong nhân học bắt đầu từ cuối thập kỷ 60 và đầu thập kỷ 70, thời gian mà các nhà nhân học ủng hộ nam nữ bình quyền tìm cách giải thích mẫu số chung trên toàn thế giới về địa vị thấp kém của phụ nữ. Các kết quả, từ góc độ nhân học đã chia tách các nhà nghiên cứu theo 2 xu hướng: + Xu hướng thứ nhất: Tìm kiếm câu trả lời cho sự phụ thuộc của phụ nữ vào nam giới từ khía cạnh kinh tế, theo đó, đàn ông là những người nắm quyền lực về kinh tế nên đồng thời là những người có địa vị cao, được tôn kính trong xã hội. Đây là một thực tế kéo dài trong lịch sử và diễn ra ở hầu hết các nên văn hoá, trong mọi thời gian và không gian. + Xu hướng thứ hai: Một số nhà nhân học khác lập luận tình hình phụ nữ phụ thuộc vào nam giới về bản chất có thé giải thích bằng các khác biệt sinh học giữa hai giới tính.
Quan điểm thứ nhất do Sherry Ortner đề xuất năm 1974 lập luận rằng: Sự khác biệt giữa phụ nữ và đàn ông trong mọi trường hợp bắt nguồn từ sự khác biệt giữa hai khái niệm thiên nhiên và văn hoá. Do phụ nữ có khả năng sinh con nên phụ nữ gần với tự nhiên hơn. Còn đàn ông thiếu đi sự sáng tạo này buộc phải tìm kiếm những dạng sáng tạo văn hoá. Song vì bản chất của văn hoá là thăng hoa, kết quả là phụ nữ bị đàn ông vượt trội [ 14, tr.
Quan điểm thứ hai do Michelle Rosaldo đưa ra cũng vào năm 1974 lại cho rằng: Sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong mọi trường hợp bắt nguồn từ sự khác biệt của hai hoạt động thuộc lĩnh vực gia đình và công cộng. Phụ nữ liên quan tới lĩnh vực nội gia thông qua chức năng sinh con và làm nội trợ. Trái lại đàn ông vì không có chức năng này nên làm việc trong lĩnh vực Cao học K2004-2007 7 Nguyễn Thị Thịnh Luận văn thạc sĩ khoa học công cộng - một lĩnh vực được vận hành đề kết nối các lĩnh vực nội gia lại với nhau. Nhìn về phạm vi thì lĩnh vực nội gia là một bộ phận của lĩnh vực công cộng.
Tương ứng với điều đó, vị thế của phụ nữ bị hạ thấp so với đàn ông [27] Phê phán những quan điểm này, nhà nhân học hiện đại - Christine Helliwell đã chỉ ra hạn chế của những mô hình đơn nhất luôn qui sự tương tác giữa phụ nữ và đàn ông vào một kiểu duy nhất: một bên là kẻ áp bức (nam giới), một bên là nạn nhân (phụ nit) mà không chú ý đến mức độ áp bức của bản thân người phụ nữ này với người phụ nữ khác, không lưu ý đến mức độ người phụ nữ là tác nhân có hiệu lực trong việc lật đồ sự ap bức của nam giới đối với họ. - Từ góc độ tâm lý học xã hội. Hướng này có các đại biểu như: Kanekar, Kolsawalla, Nazareth, Heiman, Mc Carty, Buttler, Geis, Goktepe, Scheiner. Từ những năm 1930, tâm lý học xã hội là một trong những ngành khoa học tiên phong trong việc tìm hiểu bản chất của định kiến giới, đưa ra các định nghĩa và cách thức phân biệt chúng, xem xét những nền tảng của định kiến, nguyên nhân xuất hiện và xu hướng tôn tại, khảo sát các phương sách va chiến lược nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của định kiến giới.
Tâm lý học xã hội về giới không hướng sự chú ý vào những khác biệt sinh học mà hướng đến những khác biệt về vị thế và nhóm xã hội dẫn đến việc phân tách phụ nữ và nam giới. Tâm lý học xã hội nghiên cứu về định kiến giới chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nghề nghiệp và vai trò trong gia đình. Tâm lý học xã hội nhân mạnh đến ba thành tố cơ bản của định kiến ĐIỚI: tình cảm (cảm xúc), nhận thức (niềm tin), hành vi. - Từ góc độ khoa học giới.
Lý luận của các nhà nữ quyền và nội dung của cuộc tranh luận WID (Women in Development) và GAD (Gender and Development) là hai nguồn ly luận cơ bản hình thành nên lý thuyết giới ngày nay. Lý luận của các nhà nữ quyền được hình thành từ các phong trào đấu tranh đòi quyền lợi và sự công băng cho phụ nữ, bắt nguồn từ Mỹ, sau đó lan rộng ra nhiều nước trên thế Cao học K2004-2007 8 Nguyễn Thị Thịnh Luận văn thạc sĩ khoa học giới. Cuộc tranh luận WID và GAD bắt nguồn từ thực tế tiếp cận giải quyết van đề nghèo đói ở các nước phát triển. Theo hướng nghiên cứu nay có các công trình cua: Mary Wollstonecraft, John Stuart Mill, Betty Fredan.
St Simon, Charless Fourier, Robert Owent, William Thompson, Anna Wheeler, Frances Morrison. Alison Jaggar, Luce Irigaray, Rosemarie Tong, Elizabeth Grosz, Chizuko Ueno. Các nhà khoa học giới di tim những căn nguyên dan đến tình trang phụ thuộc của phụ nữ vào nam giới, lý giải địa vị thấp kém, tình trạng bị áp bức, bóc lột của người phụ nữ, đi tìm các cơ chế, thiết chế duy trì định kiến giới, lên tiếng cũng như đưa ra các biện pháp đấu tranh đòi công bằng, cải thiện địa vị cho người phụ nữ. - Khai thác từ góc độ định kiến giới, một số nhà nghiên cứu đã tìm hiểu định kiến đối với những người phụ nữ làm lãnh đạo.
Các số liệu thống kê chỉ ra rằng: sỐ phụ nữ làm lãnh đạo trong các cơ quan, các tô chức chính trị, các doanh nghiệp chiếm một tỷ lệ nhỏ hơn rất nhiều so với nam giới, đặc biệt càng lên cấp lãnh đạo cao thì số phụ nữ tham gia càng ít.