Đặt vấn đề Việt Nam là một đất nƣớc nổi tiếng với các sản phẩm nông nghiệp và cũng là quốc gia đi lên từ cái nôi nông nghiệp. Hiện nay, mặc dù đất nƣớc đang chuyển mình dần thành nƣớc công nghiệp, tiên tiến và hiện đại hơn. Tuy nhiên, nền tảng nông nghiệp vẫn đang và sẽ vẫn luôn đƣợc chú trọng. Ngoài việc là một trong những nƣớc có sản lƣợng xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Việt Nam còn chú trọng phát triển nhiều loại cây công nghiệp hàng năm và rau đậu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc.
Trong 10 năm, từ 1991-2000, sản lƣợng đỗ tƣơng tăng 77,3 %; bông gấp 2,3 lần. Đặc biệt sản lƣợng lạc tăng 102,4% so với cùng kì, bởi đây là cây công nghiệp có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực với nguồn dinh dƣỡng phong phú. Châu Á là khu vực có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới (13,47 triệu hecta) chiếm 63,4% diện tích trên toàn thế giới. Theo thống kê năm 2012, sản lƣợng đậu phộng ở Việt Nam đứng thứ 5 trong khu vực.
Tuy nhiên, do nƣớc ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại sâu bệnh hại nhƣ: bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani), bệnh thán thƣ (Collectotrichum sp.), bệnh héo rũ gốc mốc trắng (S. rolfsii), thối gốc thân (S. rolfsii), bệnh héo xanh vi khuẩn (do Pseudomonas solanacerum), cùng nhiều loài sâu hại nhƣ: sâu khoang, sâu xanh, bọ hung… Điều này khiến cho việc sản xuất nông nghiệp, trong đó sản xuất lạc cũng gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, những nghiên cứu về cây lạc ở nƣớc ta vẫn còn rất hạn chế, trong khi những yêu cầu về kỹ thuật trong việc canh tác cũng nhƣ các hoạt động trong phòng và điều trị bệnh trên các loại cây trồng đòi hỏi ngày càng cao để nâng cao năng suất và chất lƣợng cây trồng.
Biện pháp đƣợc nông dân ƣa chuộng nhất là sử dụng các thuốc hóa học, do hiệu quả biểu hiện nhanh cũng nhƣ giá thành cạnh tranh. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc hóa học, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) lâu dài có tác động không tốt đến hệ sinh thái cũng nhƣ môi trƣờng đất trồng. Có thể kể Những loại thuốc trừ sâu hóa học nhƣ: Chlordan (cần 2-4 năm để phân hủy), 1 Dieldrin (5 năm để phân hủy), hay Mirex (cần trên 10 năm để phân hủy) đang đƣợc sử dụng rộng rãi và phổ biến, nhƣng cũng đƣợc xác định gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trƣờng đất và hệ sinh thái lân cận. Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng các chế phẩm sinh học trong phòng trị bệnh cây trồng đang là một giải pháp hữu hiệu và đƣợc ƣu tiên áp dụng.
Các phƣơng pháp này thân thiện với môi trƣờng. Sử dụng chính các thiên địch tự nhiên để phòng trừ bệnh cây trồng. Bên cạnh đó, các biện pháp sinh học không gây tác động xấu đến môi trƣờng sinh thái cũng nhƣ sức khỏe ngƣời tiêu dùng. Thực tế, đã có nhiều nƣớc trên thế giới thực hiện các nghiên cứu về Bacillus sp.
có khả năng ức chế sự phát triển của S. Tuy nhiên, nghiên cứu về lĩnh vực này còn tƣơng đối hạn chế và chƣa đƣợc thực hiện nhiều ở Việt Nam. Xuất phát từ lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu điều kiện nuôi cấy thích hợp của chủng vi khuẩn Bacillus sp. CG1 có khả năng đối kháng với chủng nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh thối gốc lạc” nhằm mục đích nâng cao hiệu quả đối kháng chủng vi khuẩn Bacillus sp.
CG1 với nấm S. rolfsii, cũng nhƣ ứng dụng hiệu quả trong việc sản xuất các chế phẩm sinh học. Mục đích và yêu câu 1. Mục đích Xác định điều kiện nuôi cấy thích hợp của chủng vk và qua đó đánh giá khả năng đối kháng với nấm S.
rolfsii gây bệnh thối gốc lạc. Yêu cầu - Nghiên cứu khảo sát, lựa chọn môi trƣờng thích hợp mà tại đấy chủng vi khuẩn Bacillus sp. CG1 có khả năng đối kháng nấm gây thối gốc tốt nhất. - Nghiên cứu ảnh hƣởng của các điều kiện nuôi cấy bao gồm nhpH, nhiệt độ, thời gian nuôi cấy, nguồn nitơ, cacbon đến khả năng đối kháng nấm S.
rolfsii của chủng CG1 - Khảo sát khả năng phân giải phosphate khó tan và khả năng sinh tổng hợp IAA của chủng vi khuẩn Bacillus. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là nền tảng cho các nghiên cứu trong tƣơng lai về vi khuẩn Bacillus sp. và khả năng phòng trừ bệnh thối gốc lạc, cũng nhƣ nghiên cứu và phát triển các chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ các chủng Bacillus sp.
để sử dụng trong kiểm soát bệnh. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu sẽ giúp hiểu thêm về các chủng Bacillus sp. trong việc kiểm soát bệnh thối gốc gây ra bởi nấm S. Qua đó chọn lọc và tăng sinh khối chủng vi sinh vật có lợi hỗ trợ phòng trừ bệnh hại ở cây trồng.
Do đó, chất lƣợng nông sản và sản lƣợng đƣợc cải thiện. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây lạc Lạc hay còn gọi là đậu phộng. Là cây họ đậu (họ Fabaceae).
Lạc là cây lƣơng thực quan trọng thứ 13 và là cây trồng hạt có dầu quan trọng thứ 4 trên thế giới. Đậu phộng có danh pháp Arachis hypogaea L. bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, Arachis có nghĩa là cây họ đậu và hypogaea có nghĩa là bên dƣới lớp đất, điều này đề biểu hiện đặc tính phát triển dƣới mặt đất khi hình thành vỏ quả của loài này. Các bộ phận của cây lạc (Nguồn: National Peanut Board, 2020) Lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ nhiệt đới, lạc đã sớm đƣợc xâm nhập vào vùng nhiệt đới thời xa xƣa.
Hạt của loài này là một thực phẩm có nhiều tác dụng về mặt dinh dƣỡng, giàu protein và chất béo. Lạc là cây hàng năm và có thể phát triển cao 45-60cm với các nhánh ngắn hoặc có dạng lan rộng. Các thân cây chắc chắn và có lông xung quanh phiến lá (Carley & Fletcher, 1995). Hoa lạc đƣợc sinh ra trong các nách của lá và có màu vàng với kích thƣớc khoảng 10 mm.
Các vỏ của củ có hình chữ nhật với các đầu tròn và dài khoảng 25-50 mm với hai hoặc ba hạt. Các hạt thay đổi từ thuôn đến gần tròn và màu từ màu trắng đến tím đậm. Hình thái củ lac (Nguồn: Britannica, 2011) Lạc đƣợc trồng trên khắp thế giới và đặc biệt phát triển ở các vùng khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới ấm áp. Khoảng 13,5 triệu ha lạc đƣợc trồng ở châu Á, 5,3 triệu ha ở châu Phi, 1,2 triệu ha ở châu Mỹ và 0,1 triệu ha ở các khu vực khác trên thế giới (FAO, 2017).
Ấn Độ và Trung Quốc là những nơi sản xuất lạc lớn nhất. Tại Ấn Độ, nhiều giống lạc mới đƣợc nghiên cứu và phát triển. Tại các thử nghiệm đa địa điểm cấp nhà nƣớc đƣợc thực hiện trong năm 2018 và 2019, giống lạc CGM-1 đã ghi nhận năng suất quả trung bình là 4,2 tấn/ha, cao hơn 28% so với giống Zonal TAG 24 và GG 8 đã đƣợc sử dụng trƣớc đây (ICRISAT, 2020). Tuy nhiên, khi bị nhiễm bệnh năng suất của lạc có thể bị giảm một cách đáng kể.
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, ƣớc tính sản lƣợng lạc vụ sớm trong năm 2022 của Mỹ dự báo đạt 2,84 triệu tấn, giảm 60. Chu kì sinh trƣởng của cây lạc Thông thƣờng, hạt giống sẽ đƣợc gieo trồng vào đất trong thời điểm đầu mùa xuân. Sau đó, cây lạc sẽ trải qua khoảng thời gian từ 4 đến 5 tháng (hoặc kéo dài từ 120 đến 160 ngày) để có thể hoàn thiện một chu trình phát triển (Kachonpadungkitti & cs, 1992). Sau khi trồng, cây con phát triển và mầm trồi lên mặt đất trong khoảng 10 ngày, cao đến khoảng 18 inch.
Không giống nhƣ 5 hầu hết các loài thực vật, hoa loài này nở trên mặt đất nhƣng “trái” thì ở dƣới mặt đất. Khi lạc đã sẵn sàng để thu hoạch, ngƣời nông dân sử dụng máy đào để làm tơi xốp đất và sau đó sẽ nhấc cây từ đất. Giá trị dinh dƣỡng Đậu phộng là một nguồn dinh dƣỡng tiềm năng có khả năng thay thế các protein từ động vật. Mặc dù về mặt khoa học, đậu phộng là một loài họ đậu, nhƣng hầu hết mọi ngƣời đều coi chúng nhƣ một loại hạt có nguồn giá trị dinh dƣỡng cao.
Theo nghiên cứu từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, 100g đậu phộng cung cấp: Lƣợng calo: 567 Nƣớc: 7% Chất đạm: 25,8 g Carb: 16,1 g Đƣờng: 4,7 g Chất xơ: 8,5 g Chất béo: 49,2 g Bão hòa: 6,28 g Omega-6: 15,56 g Theo Hội đồng đậu phộng Hoa Kỳ, thành phần chất béo trong đậu phộng chứa khoảng 50% axit béo không bão hòa đơn (MUFAs), 33% Paraformaldehyde (PFAs) và 14% axit béo bão hòa (Feldman, 1999). Lƣợng chất béo chuyển hóa trong bơ đậu phộng với chất ổn định 2% ít hơn 156 lần so với lƣợng chất béo chuyển hóa cần thiết để đạt đƣợc giới hạn 0 g chất béo chuyển hóa trên nhãn thực phẩm (Sanders, 2001). Theo nhiều nghiên cứu, tiêu thụ 100 g đậu phộng có khả năng cung cấp tới 75% RDA của Niacin, 60% RDA của folate, 53% RDA của thiamin, 10% RDA của Riboflavin, 35% RDA của axit pantothenic, 27% RDA của pyridoxine, 55,5% RDA của vitamin E (Arya & cs, 2016). Đậu phộng cũng đã đƣợc công nhận là một nguồn niacin tuyệt vời, rất quan trọng đối với hoạt động của hệ tiêu hóa, da, 6 thần kinh, giúp chuyển hóa thức ăn thành năng lƣợng và đƣợc cho là có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer và suy giảm nhận thức (Morris & cs, 2004).
Lạc cũng chứa một lƣợng folate tốt, đặc biệt quan trọng trong giai đoạn sơ sinh và mang thai, trong việc sản xuất và duy trì các tế bào. Ở mỗi nƣớc, tỉ lệ tiêu thụ lạc rất khác nhau, đồng thời các sản phẩm thƣơng mại cũng rất đa dạng và thƣờng đƣợc bản địa hóa. Một số sản phẩm đƣợc chế biến từ lạc nhƣ: lạc rang, bơ lạc, dầu lạc, bột lạc, nƣớc sốt lạc, bột lạc, sữa lạc. Bên cạnh đó, hầu hết cây lạc đều đƣợc sử dụng để chiết xuất thành dầu lạc.
Tùy thuộc vào cách chế biến, dầu đậu phộng có thể có nhiều loại hƣơng vị khác nhau, từ ngọt nhẹ và ngọt đến nồng. Dầu đậu phộng tinh luyện: Loại này đƣợc tinh chế, tẩy trắng và khử mùi, giúp loại bỏ các phần gây dị ứng của dầu. Nó thƣờng an toàn cho những ngƣời bị dị ứng đậu phộng. Nó thƣờng đƣợc các nhà hàng sử dụng để chiên các loại thực phẩm nhƣ gà và khoai tây chiên.
Dầu đậu phộng ép lạnh: Trong phƣơng pháp này, đậu phộng đƣợc nghiền để ép ra dầu.