Đặt vấn đề Một vấn đề lớn cũng là bài toán quan trọng cần giải quyết đối với hoạt động của hệ thống phanh, đó là khi ô tô phanh gấp hay phanh trên các loại đường có hệ số bám thấp như đường trơn, đường đóng băng, tuyết thì dễ xảy ra hiện tượng các bánh xe sớm bị hãm cứng, tức là hiện tượng bánh xe bị trượt lết trên đường khi phanh. Khi đó quãng đường phanh sẽ kéo dài hơn, tức hiệu quả phanh thấp đi, đồng thời dẫn đến tình trạng mất ổn định và khả năng điều khiển của xe. Nếu các bánh xe trước sớm bị hãm cứng sẽ làm cho xe không thể chuyển hướng theo sự điều khiển được, nếu các bánh sau bị hãm cứng, do sự khác nhau về hệ số bám giữa bánh trái và phải và mặt đường nên làm cho đuôi xe bị lạng, trượt ngang và chuyển động lệch hướng so với lúc bắt đầu phanh. Trong trường hợp xe phanh khi đang quay vòng, hiện tượng trượt ngang của các bánh xe dễ dẫn đến các hiện tượng quay vòng thiếu hay quay vòng thừa làm mất ổn định khi xe quay vòng.
Để giải quyết bài toán về vấn đề hiệu quả và tính ổn định khi phanh, phần lớn các ô tô hiện nay điều được trang bị hệ thống chống hãm cứng bánh xe khi phanh, tức chống hiện tượng trượt lết của bánh xe gọi là “ Anti-lock Braking System” và thường được gọi tắt là hệ thống phanh ABS. Hệ thống ABS hoạt động chống hãm cứng bánh xe khi phanh bằng cách điều khiển thay đổi áp suất dầu tác dụng lên các xy lanh bánh xe để cho nó không bị hãm cứng khi phanh trên đường trơn hay khi phanh gấp, đảm bảo tính hiệu quả và tính ổn định trong quá trình phanh. Hệ số bám và lực bám có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo an toàn chuyển động của ô tô, nó có liên quan chặt chẽ đến tính chất động lực học của ô tô HVTH: Quãng Minh Đằng Trang 5 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lâm Mai Long đến hiệu quả phanh và độ ổn định khi phanh, tính năng dẫn hướng,… hệ thống ABS, ASR được thiết kế cũng dựa trên cơ sở phân tích và xử lý để đạt được các giá trị tối ưu này.2 Hệ số bám Bánh xe là phần tử đàn hồi kết nối giữa xe và mặt đường.
Nhờ có sự bám giữa xe và mặt đường mới có sự truyền động các moment kéo, moment phanh được tạo ra từ động cơ hay cơ cấu phanh đến mặt đường, giúp cho xe chuyển động hay dừng lại được. Sự bám giữa bánh xe với mặt đường được đặc trưng bằng hệ số bám φ. Về cơ bản, có thể xem hệ số bám tương tự như hệ số ma sát giữa hai vật thể cơ học. Tuy nhiên do mối quan hệ truyền động giữa bánh xe và mặt đường là vấn đề rất phức tạp, vừa có tính chất của một ly hợp ma sát vừa theo nguyên lý ăn khớp thanh răng bánh răng, còn sự mấu bám của bề mặt gai lốp vào mặt đường.
Hệ số bám φ giữa bánh xe và mặt đường được chia làm hai thành phần: hệ số bám trong mặt phẳng dọc, tức là mặt phẳng chuyển động của ô tô được gọi là hệ số bám dọc φx. Ngoài ra còn hệ số bám trong mặt phẳng ngang vuông góc với mặt phẳng dọc và được gọi là hệ số bám ngang φy. Hệ số bám dọc φx được hiểu là tỷ số của lực phanh cực đại Fmax trên tải trọng Gb tác dụng lên bánh xe.1) 𝐺𝑏 Tương tự hệ số bám ngang φy được xác định theo biểu thức: 𝑌𝑚𝑎𝑥 φy= (2.2) 𝐺𝑏 Trong đó Ymax là lực ngang cực đại tác dụng lên bánh xe. HVTH: Quãng Minh Đằng Trang 6 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS.
Lâm Mai Long Thực nghiệm chứng tỏ hệ số bám φ phụ thuộc bởi nhiều yếu tố như: loại mặt đường và tình trạng mặt đường, kết cấu và nguyên liệu lốp, tải trọng tác dụng lên bánh xe, tốc độ chuyển động của xe, điều kiện nhiệt độ làm việc, độ trượt giữa bánh xe và mặt đường. Do đó, trong quá trình chuyển động của xe, giá trị hệ số bám φ là thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố kể trên. Đặc biệt là độ trượt giữa bánh xe và mặt đường ảnh hưởng rất nhiều đến hệ số bám. Khi tăng độ trượt (trượt lết hay trượt quay) của bánh xe thì hệ số bám lúc đầu tăng lên nhanh chóng và đạt giá trị cực đại trong khoảng độ trượt 10 ÷ 30%.3 Hiện tượng trượt lết của bánh xe khi phanh.1 Lực và moment tác dụng lên bánh xe khi phanh F F Hình 2.1 Sơ đồ lực và moment tác dụng lên ô tô khi phanh [1] Khi phanh, tại bánh xe xuất hiện các lực và moment sau: FP - Là lực đẩy từ khung xe truyền đến.
Gb - Tải trọng tác dụng lên bánh xe. Zb - Phản lực pháp tuyến của mặt đường tác dụng lên bánh xe. Cơ cấu phanh sinh ra một moment ma sát gọi là moment phanh Mp nhằm hãm bánh xe lại; khi đó xe chuyển động với gia tốc chậm dần, do đó trên bánh xe sẽ có HVTH: Quãng Minh Đằng Trang 7 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lâm Mai Long moment quán tính Mjb tác dụng, moment này cùng với chiều chuyển động của bánh xe.
Ngoài ra còn có moment cản lăn Mf tác dụng, moment này ngược chiều chuyển động và có tác dụng hãm bánh xe lại. Tuy nhiên, thực nghiệm chứng tỏ rằng moment cản lăn trong trường hợp này có giá trị rất bé so với moment phanh, vì thế có thể bỏ qua. Xem như chỉ có moment phanh dùng để cản lại moment quán tính. Lúc đó ở bánh xe xuất hiện phản lực tiếp tuyến Fp ngược chiều chuyển động.
Phản lực tiếp tuyến này được gọi là lực phanh và xác định theo biểu thức: 𝑀𝑝 Fp= →Mp= Fp .3) 𝑟𝑏 Trong đó rb là bán kính tính toán của bánh xe. Lực phanh Fp có giá trị bằng Fξ nhưng ngược chiều (bỏ qua lực cản lăn Pf ).2 Hiện tượng trượt lết của bánh xe khi phanh Moment phanh do cơ cấu phanh của bánh xe sinh ra, nhưng mặt đường là nơi tiếp nhận thông qua điều kiện bám giữa bánh xe và mặt đường. Nên lực phanh lớn nhất bị giới hạn bởi khả năng bám giữa bánh xe với mặt đường, mà đặc trưng là hệ số bám φ, theo mối quan hệ sau: Fpmax=Fφ= Zb.4) Với Fpmax lực phanh cực đại có thể sinh ra từ khả năng bám của bánh xe với mặt đường. Fφ: Lực bám giữa bánh xe với mặt đường.
Zb: Phản lực pháp tuyến tác dụng lên bánh xe. Từ đây ta thấy khi phanh gấp ( Fp lớn) hay khi phanh trên các loại đường có hệ số bám thấp như đường trơn thì phần Fp dư vượt quá giới hạn trên, do mặt đường không có khả năng tiếp nhận sẽ làm bánh xe sớm bị hãm cứng và trượt lết trên đường. Cũng theo công thức 2.4, thấy rằng hệ số bám φ đóng vai trò quan trọng HVTH: Quãng Minh Đằng Trang 8 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lâm Mai Long trong việc xác định điều kiện bám giữa bánh xe với mặt đường.
Duy trì hệ số bám cao trong quá trình phanh để đạt giá trị lực phanh cực đại là mục tiêu cần quan tâm đối với hệ thống phanh. Hình 2-2 Giải thích hiện tượng trượt lết của bánh xe khi phanh: Hình 2.2 Trạng thái lăn của bánh xe khi có trượt lết [1] Ký hiệu V0 là vận tốc lý thuyết của bánh xe V: Vận tốc thực của bánh xe Ta có: V0=ωk.6) Trong đó: ωk: Vận tốc góc của bánh xe [rad/s]; rb - Bán kính tính toán [m]; rl - Bán kính lăn của bánh xe [m]. Khi vận tốc thực tế của bánh xe lớn hơn vận tốc lý thuyết của nó sẽ dẫn đến hiện tượng trượt của bánh xe khi phanh với một vận tốc trượt Vλ Vλ = V-V0 (2.7) HVTH: Quãng Minh Đằng Trang 9 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lâm Mai Long Để kể đến ảnh hưởng của sự trượt khi phanh, người ta đưa ra khái niệm độ trượt khi v v v0 v0 phanh: 1 v v v (2.8) Ở trạng thái trượt lết hoàn toàn, tức bánh xe bị hãm cứng thì: k 0 , v0 0 , rl , 1 (2.9) Thực tế, người ta tính độ trượt tương đối: v v0 100% v (2.10) Khi = 100%, bánh xe bị hãm cứng và trượt lết hoàn toàn trên mặt đường.3 Đặc tính trượt (a (b) Hình 2.3 Đặc tính trượt, thể hiện sự thay đổi hệ số bám dọc φx và hệ số bám ngang φy theo độ trượt tương đối λ của bánh xe khi phanh [2] Đặc tính trượt là đường cong biểu diễn mối quan hệ giữa hệ số bám φ và độ trượt λ.
Trong quá trình phanh, hệ số bám φ thay đổi theo độ trượt λ, thực nghiệm đã mô tả sự phụ thuộc này thông qua đường đặc tính trượt có dạng .4 chỉ ra các đặc tính trượt, thể hiện mối quan hệ giữa hệ số bám dọc φx và hệ số bám ngang φy theo độ trượt tương đối λ của bánh xe ứng với các loại đường khác nhau. HVTH: Quãng Minh Đằng Trang 10 Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lâm Mai Long Bằng thực nghiệm có phương trình thể hiện mối quan hệ giữa hệ số bám và độ trượt: C1. 2 Trong đó C1, C2và C3 là các hệ số thực nghiệm. Giá trị của hệ số bám lăn (thường gọi là hệ số bám) dao động trong khoảng từ 0,1 (đường đóng băng ) tới 1,0 (đường beton ) Hình 2.4 Đặc tính trượt tương ứng với các loại đường khác nhau [1] Các hệ số bám dọc φx và hệ số bám ngang φy đều thay đổi theo độ trượt λ.
Lúc đầu, khi tăng độ trượt λ thì hệ số bám dọc φx tăng lên nhanh chóng và đạt giá trị cực đại trong khoảng độ trượt λ= 10÷30%. Nếu độ trượt tiếp tục tăng thì φx giảm, khi độ trượt λ=100% (lốp xe bị trượt lết hoàn toàn khi phanh) thì hệ số bám dọc φx giảm 20 ÷ 30% so với hệ số bám cực đại. Khi đường ướt còn có thể giảm nhiều hơn nữa, đến 50 ÷ 60 %. Đối với hệ số bám ngang φy, sẽ giảm nhanh khi độ trượt tăng, ở trạng thái trượt lết hoàn toàn thì φy giảm xuống gằng bằng không.
Hệ số bám dọc đạt giá trị cực đại φxmax ở giá trị độ trượt tối ưu λ0. Thực nghiệm chứng tỏ rằng ứng với các loại đường khác nhau thì giá trị λ0 thường nằm trong giới hạn từ 10 ÷ 30 %.