Chương 1 TỔNG QUAN 1. Bentonit Bentonit được hình thành chủ yếu từ sự phân hủy của dung nham, tro bụi của núi lửa qua hàng triệu năm, đây là một loại khoáng sét cực mịn, có tính keo, trương phồng mạnh trong nước được phát hiện năm 1848 bởi WilBbur C.knight người Mỹ. Thành phần của bentonit Bentonit là loại khoáng sét tự nhiên có thành phần chính là montmorillonite (MMT), do đó có thể gọi bentonit theo thành phần chính là MMT. Công thức đơn giản nhất của MMT là Al2O3.nH2O ứng với nửa tế bào đơn vị cấu trúc.
Trong trường hợp lý tưởng công thức của MMT là Si8Al4O20(OH)4 ứng với một đơn vị cấu trúc. Tuy nhiên khi ion Si4+ trong tứ diện SiO4 và Al3+ trong bát diện AlO6 được thay thế đồng hình bởi các ion kim loại Al3+, Fe3+, Fe2+, Mg2+… khi đó thành phần của MMT luôn khác với thành phần biểu diễn dưới dạng lý thuyết. Như vậy thành phần hóa học của MMT ngoài sự có mặt của Si và Al còn thấy một số nguyên tố khác như K, Na, Mg, Zn, Fe….trong đó tỉ lệ Al2O3:SiO2 thay đổi từ 1: 2 đến 1: 4. Thành phần chính của sét bentonit là MMT chiếm khoảng 60 – 70% [2], [5], [13].
Ngoài thành phần chính là MMT, trong bentonit thường còn chứa một số khoáng sét khác như hectorit, saponit và một số khoáng vi sét như canxit, pirit, manhetit, các muối kiềm và một số chất hữu cơ khác [11]. Cấu trúc của bentonit Trong công thức lý tưởng của MTT, các nguyên tử Si nằm ở tâm mạng tứ diện, còn các nguyên tử Al nằm ở tâm mạng bát diện và một số ion nhôm bị thay thế bằng ion magie. (a) Đơn vị cấu trúc tứ diện (b) Đơn vị cấu trúc bát diện Hình 1. Cấu trúc tứ diện SiO4 và bát diện MeO6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Sơ đồ cấu trúc không gian của MMT Cấu trúc tinh thể của MMT được trình bày ở hình 1. Cấu trúc này được tạo nên bởi 2 mạng lưới tứ diện liên kết với mạng lưới bát diện ở giữa tạo nên một lớp cấu trúc. Tồn tại phân tử nước trong không gian giữa các lớp, ở đây nước có xu hướng tạo vỏ hiđrat hóa với các cation trong mạng lưới. MMT khi phân ly trong nước dễ dàng trương nở và phân tán thành những hạt nhỏ cỡ micromet và dừng lại ở trạng thái lỏng lẻo với lực hút Van-đec-van.
Chiều dày mỗi lớp cấu trúc của MMT là 9,2 ÷ 9,8 Å. Khoảng cách lớp giữa trong trạng thái trương nở khoảng từ 5 ÷ 12 Å tùy theo cấu trúc tinh thể và trạng thái trương nở. Trong tự nhiên khoáng sét MMT thường tích điện âm do trong mạng có khuyết tật hoặc do có sự thay thế đồng hình của các cation (như Mg2+, Fe2+…) với Al3+ và Al3+ với Si4+. Vậy để trung hòa điện tích, MMT có xu hướng tiếp nhận các cation (Na+, K+, Li+…) từ bên ngoài.
Các cation này chủ yếu nằm trong vùng không gian giữa các lớp, chỉ một phần nhỏ định vị ở mặt ngoài của mạng lưới tinh thể. Trong khoáng MMT các cation có khả năng trao đổi với cation ngoài dung dịch với dung lượng trao đổi khác nhau, thông thường dung lượng trao đổi dao động trong khoảng 80 ÷ 150 mgđl/100g. Khoảng cách giữa các lớp mạng có sự thay đổi nhờ quá trình trương nở và sự xâm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn nhập của các cation, sự thay đổi này phụ thuộc vào loại cation xâm nhập (hình 1. Quá trình xâm nhập của cation vào trao đổi cation Na+ trong khoảng giữa hai lớp MMT 1.
Tính chất của bentonit Bentonit có thành phần chính là MMT có cấu trúc gồm các lớp aluminosilicat liên kết với nhau bằng liên kết hiđro, có các ion bù trừ điện tích tồn tại giữa các lớp nên bentonit có các tính chất đặc trưng: trương nở, hấp phụ, trao đổi ion, kết dính,. Trong đó quan trọng nhất là khả năng trương nở, hấp phụ và trao đổi ion [2], [5], [13]. Khả năng trương nở Trong nước, chiều dày của lớp cấu trúc tăng lên do các phân tử phân cực hoặc các cation bị hấp phụ vào khe trống, đây được gọi là tính trương nở của bentonit, ngoài ra cấu trúc lớp hai chiều của các khoáng sét làm cho chúng có có khả năng hấp phụ lượng nước lớn. Mặt khác, do lực hút Van-đec-van giữa các lớp sét nằm phía trên yếu và có độ hụt điện tích dương do sự thay thế đồng hình xảy ra ở cả tấm tứ diện và bát diện làm cho nước và các ion trao đổi có thể xâm nhập vào giữa và chia tách các lớp mạng, làm chiều dày lớp cấu trúc tăng lên.
Vì vậy MMT dễ bị trương nở khi gặp nước. Mức độ trương nở phụ thuộc vào bản chất của khoáng sét, cation trao đổi, sự thay thế đồng hình cation và ion trong môi trường phân tán [5], [6], [13]. Khi bentonit hấp thụ hơi nước hay tiếp xúc với hơi nước, các phân tử nước phân cực sẽ thâm nhập vào bên trong các lớp làm khoảng cách này tăng lên ít nhất 14-15Å tùy thuộc vào loại bentonit và lượng nước bị hấp thụ. Sự tăng khoảng cách d001 được lý giải do sự hiđrat hóa của các cation giữa các lớp [2].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Độ trương nở của bentonit còn phụ thuộc vào bản chất cation trao đổi trên bề mặt lớp sét. Ví dụ, ion Na+ với điện tích 1+ có thể liên kết với một tâm tích điện âm trên mặt lớp sét. Do vậy khi bị hiđrat hóa, bentonit Na có khả năng trương nở từ khoảng cách ban đầu giữa hai phiến sét là từ 9,2Å đến ít nhất 17Å [3]. Trong môi trường kiềm bentonit - Na bị hiđrat hóa mạnh hơn, lớp nước hấp phụ tăng mạnh.
Do vậy trong môi trường kiềm, huyền phù bentonit - Na rất bền vững. Cation Ca2+ liên kết với 2 tâm điện tích âm nên sét bentonit - Ca khi bị hiđrat hóa, khoảng cách giữa hai phiến sét tăng ít hơn so với bentonit - Na. Điều này hạn chế sự trương nở hay khả năng tạo độ nhớt của bentonit - Ca [3]. Tính chất hấp phụ Do kích thước hạt nhỏ nên bentonit có diện tích bề mặt riêng lớn bao gồm diện tích bề mặt trong và diện tích bề mặt ngoài.
Diện tích bề mặt ngoài được xác định bởi bề mặt của các mao quản chuyển tiếp, các mao quản này được tạo nên do sự tiếp xúc của các hạt bentonit với nhau, chính kích thước các hạt bentonit quyết định kích thước bề mặt ngoài, các hạt này càng nhỏ diện tích bề mặt ngoài càng lớn dẫn đến khả năng trao đổi ion và khả năng hấp phụ tăng lên. Chất bị hấp phụ ở bề mặt trong bao gồm: ion vô cơ, chất hữu cơ, dưới dạng ion, chất hữu cơ phân cực. Chất bị hấp phụ bề mặt ngoài: chất hữu cơ không phân cực, polyme và vi khuẩn. Hấp phụ có tính chất chọn lọc: do có sự dư hóa trị trên các nguyên tử ở các nút mạng tinh thể nên bentonit là một chất hấp phụ phân cực vì vậy nó sẽ ưu tiên hấp phụ các chất phân cực.
Tuy nhiên do lực Van- đec- van và tương tác hấp phụ chủ yếu là tương tác cảm ứng nên bentonit vẫn có khả năng hấp phụ các chất không phân cực [2], [3], [5], [6]. Do bentonit có cấu trúc lớp, độ phân tán cao nên có cấu trúc dạng rỗng và diện tích bề mặt lớn. Cấu trúc xốp ảnh hưởng lớn đến tính chất hấp phụ, đặc trưng là khả năng hấp phụ có tính chất chọn lọc cao, chỉ những chất hấp phụ có kích thước phân tử nhỏ hơn lỗ xốp mới chui qua được, dựa trên cơ sở đó bằng nhiều phương pháp biến tính người ta sử dụng bentonit làm vật liệu tách chất. Đây cũng là một đặc điểm mà bentonit khác với các vật liệu hấp phụ khác [5].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Khả năng trao đổi ion của bentonit Đặc trưng cơ bản của bentonit là khả năng trao đổi ion, có được tính chất này do sự thay thế đồng hình của các cation trong mạng lưới tứ diện và bát diện làm xuất hiện các điện tích âm trong mạng lưới cấu trúc, sau đó lại được bù trừ bằng các cation như Na+, Ca2+. chúng được gọi là các cation trao đổi [5]. Đối với bentonit sự thay thế đồng hình chủ yếu xảy ra trong lớp bát diện, ở giữa hai lớp tứ diện của phiến sét, do đó liên kết của cation với bề mặt lớp sét là liên kết yếu và các cation đó có thể bị thay thế bởi cation khác, khả năng trao đổi mạnh hay yếu phụ thuộc vào điện tích âm trên bề mặt và số lượng ion trao đổi.
Sự xuất hiện điện tích âm trong mạng lưới cấu trúc sẽ được bù trừ bằng các cation trao đổi. Dung lượng trao đổi ion phụ thuộc vào số lượng điện tích âm trên bề mặt. Số lượng cation càng lớn thì dung lượng trao đổi càng lớn. Dung lượng trao đổi của cation dao động từ 80 đến 150meq/100g còn của anion từ 15 đến 40 meq/100g [2], [3], [8].
Khả năng trao đổi của lớp aluminosilicat còn phụ thuộc vào điện tích và bán kính của cation trao đổi, các cation có điện tích thấp dễ trao đổi hơn cation có điện tích cao, thứ tự sắp xếp như sau: Me+ > Me2+ > Me3+ đối với các cation cùng điện tích, bán kính càng nhỏ thì khả năng trao đổi càng lớn, có thể sắp xếp trật tự như sau: Li+ > Na+ > K+ > Cu2+ > Fe2+ > Al3+. Nhờ tính chất trao đổi ion người ta có thể biến tính bentonit bằng nhiều phương pháp khác nhau nhằm tạo ra vật liệu mới phù hợp với mục đích sử dụng [2], [3], [5], [6], [13], [17]. Ngoài những tính chất quan trọng kể trên, bentonit còn một số tính chất khác như: tính kết dính, tính nhớt, tính dẻo và tính trơ. Ứng dụng của bentonit [2], [3], [5], [6], [13], [17], [19] Từ một số tính chất đã được đề cập ở trên, bentonit có một số ứng dụng như sau: Làm vật liệu hấp phụ Do khả năng hấp phụ đặc biệt tốt nên bentonit được dùng rộng rãi làm chất hấp phụ trong nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt trong ngành khai thác dầu nó được dùng để tạo ra các dung dịch khoan với chất lượng rất cao.
Làm tăng sức chở của dung dịch khoan, tạo huyền phù với các tác nhân và mùn khoan gây lắng khi ngừng lưu chuyển dung dịch khoan. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.