CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về rác thải điện tử 1. Định nghĩa và phân loại rác thải điện tử * Định nghĩa Rác thải điện tử (RTĐT) là tất cả các thiết bị điện – điện tử và các bộ phận của nó đã bị chủ sỡ hữu vứt bỏ như rác thải mà không có ý định tái sử dụng [8], [9]. * Phân loại - Loại 1: Thiết bị trao đổi nhiệt độ: là thiết bị làm mát và đóng băng.
Ví dụ: tủ lạnh, tủ đông, máy lạnh… - Loại 2: Màn hình và thiết bị có chứa màn hình. Ví dụ: tivi, laptop, máy tính bảng. Ví dụ: đèn huỳnh quang, đèn LED… - Loại 4: Thiết bị lớn. Ví dụ: máy giặt, máy sấy, máy rửa chén… - Loại 5: Thiết bị lớn.
Ví dụ: máy hút bụi, lò vi sóng, lò nướng, ấm đun siêu tốc… - Loại 6: Thiết bị công nghệ thông tin nhỏ và viễn thông. Ví dụ: điện thoại di động, máy tính, máy in, máy chơi game…[9]. Thành phần của rác thải điện tử RTĐT tồn tại ở dạng rắn. Theo nghiên cứu của Empa (Phòng thí nghiệm nghiên cứu và thử nghiệm vật liệu liên bang Thụy Sĩ) cho biết rằng trong RTĐT bao gồm khoảng 60,2% kim loại, 15,2% nhựa, 11,9% màn hình (ống tia cực âm và màn hình tinh thể lỏng), 5% hỗn hợp kim loại – nhựa, 2,7% chất gây ô nhiễm, 2% dây cáp, 1,7% bảng mạch in và 1,4% các thành phần khác [10].1 Thành phần có trong RTĐT [10] Trong RTĐT có chứa rất nhiều các chất độc hại như chì (trong pin), cadmi (trong chất bán dẫn và điện trở), thủy ngân (trong màn hình, bóng đèn huỳnh quang, nhiệt kế…), polychlorin biphenyls (trong tụ điện), nhựa, hydrocarbon thơm đa vòng, dionxin brom hóa, các chất chống cháy…[10], [1].
Bên cạnh đó, nó còn có các kim loại có giá trị như vàng, bạc, paladi và các kim loại khác như đồng, nhôm, sắt. Trong đó, đồng chiếm từ 6 – 20%, thiếc 4%, sắt chiếm 1,2 – 8%, niken 0,3 – 5,4%, chì 1 – 4,2%, kẽm 0,2 – 2,2%, bạc 0,01 – 0,45%, vàng 0,02 – 0,20% và paladi 0,005 – 0,4% [5]. Ảnh hưởng của rác thải điện tử Người ta ước tính trong một chiếc máy tính có hơn 1000 chất khác nhau, đa số là các chất độc hại. Trong đó, hàm lượng chì trong một chiếc máy tính là khoảng 1,8 – 3,6 kg, trong màn hình thủy tinh chiếm khoảng 20% khối lượng.
Khi những thiết bị điện tử này có mặt ở bãi rác, chì và các chất độc hại khác như As, Cd, Cr, Hg… sẽ được giải phóng ra ngoài làm ô nhiễm môi trường, đe dọa sức khỏe con người và các sinh vật khác [11].2 Quá trình các chất độc hại trong RTĐT xâm nhập vào cơ thể con người và sinh vật [11] Theo các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng các kim loại độc hại và các chất hữu cơ polyhalogen bao gồm polychlorin biphenyls (PCBs) và polybromin diphenyl ethers (PBDEs) có mặt trong RTĐT và chúng được giải phóng ra bên ngoài, gây hại nặng nề đến môi trường và sức khỏe con người [12], [13], [14]. Cùng với đó, nhiều nhà nghiên cứu khác đã nói lên tính độc hại của RTĐT. Điển hình là nghiên cứu của Asante và cộng sự, nói lên sự ảnh hưởng sức khỏe của các công nhân làm việc tại Agbogbloshie, Accra ở Ghana về việc tái chế RTĐT. Họ đã chứng minh trong nước tiểu của những người công nhân này có nồng độ cao của các nguyên tố đa vi lượng Fe, Sb và Pb lần lượt là 130; 0,89 và 6,06 µg/l.
Hơn nữa, trong nước tiểu cũng có hàm lượng của As khá cao mặc dù trong nước uống rất thấp [15]. Bên cạnh đó, Weiyue Qu và cộng sự cũng đã nghiên cứu về mức độ phơi nhiễm với polybromin diphenyl ethers (PBDEs) của các công nhân về việc xử lý RTĐT ở khu vực Guangdong, China. Họ đã thấy rằng, hàm lượng PBDEs trong huyết thanh của những người công nhân này là rất cao. Khi các công nhân làm việc trong môi trường tiếp xúc thường xuyên với RTĐT đã bị ảnh hưởng rất nhiều bởi nồng độ BDE-209 là 3436 ng/g trọng lượng lipid (ng.w) và đây là nồng độ được xem là cao nhất của BDE-209 ở người trên thế giới.
Một số khác như BDE-197, BDE-207 và BDE-208 cũng được tìm thấy với hàm lượng khá cao ở các công nhân làm việc với RTĐT [16]. Mặt khác, Gaofeng Zhao và cộng sự đã nghiên cứu mức độ nhiễm polychlorin biphenyls (PCBs), polybromin biphenyls (PBBs) và polybromin diphenyl ethers (PBDEs) trong tóc của những người dân sinh sống xung quanh khu vực phân loại RTĐT ở Zhejiang, 3 China. Họ đã tìm thấy trong tóc của những người dân này có hàm lượng rất cao của PBBs, PBDEs và PCBs lần lượt là 57,77; 29,64 và 181,99 ng/g dw [17]. Ngoài ra, Weila Li và cộng sự cũng chỉ ra rằng RTĐT ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người ở Guiyu, China.
RTĐT được tái chế thực sự chỉ khoảng 12,5% nhưng kỹ thuật còn thô sơ hạn chế nên làm cho các chất độc hại từ RTĐT bị rò rỉ ra môi trường. Hàm lượng kim loại nặng được tìm thấy trong đất và sông là rất nhiều. Chính những chất độc hại đó dần dần ngấm vào nên việc trồng lương thực cũng như nguồn nước sinh hoạt của người dân bị ảnh hưởng nặng nề [18]. Tại Việt Nam, những nơi gần các khu công nghiệp chuyên sản xuất các thiết bị điện – điện tử hầu hết đều bị ô nhiễm nguồn nước do việc xử lý không đúng cách các rác thải điện tử.
Bên cạnh đó, những người thu gom xứ lý rác, các hộ dân sinh sống cũng như các loài động – thực vật xung quanh khu vực bãi rác điện tử cũng chịu tác động từ các kim loại nặng và chất độc trong RTĐT. Những khu vực chứa hoặc đốt, xử lý RTĐT làm ô nhiễm nguồn đất, nước, không khí và dần dần làm ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn và sức khỏe con người [19]. Tình hình rác thải điện tử trên thế giới Năm 2005, 27 thành viên của Liên Minh châu Âu (EU) đã sản xuất ra khối lượng RTĐT là 8,3 – 9,1 triệu tấn. Hàng năm RTĐT tăng từ 2,5 – 2,7% kể từ năm 2020 [20].
Theo số liệu thống kê của Liên Hợp Quốc tại báo cáo “Giám sát RTĐT toàn cầu năm 2020” thì trong năm 2019, thế giới đã tạo ra 53,6 triệu tấn RTĐT, tăng 21% trong 5 năm qua và chỉ 17,4% trong số này được ghi nhận chính thức là được thu gom và tái chế đúng cách. Nó đã tăng 1,8 triệu tấn kể từ năm 2014, nhưng tổng lượng phát sinh rác thải điện tử tăng 9,2 triệu tấn. Trong đó, châu Á chiếm khoảng 24,9 triệu tấn là nơi có khối lượng RTĐT cao nhất, châu Mỹ 13,1 triệu tấn, châu Âu 12 triệu tấn, châu Phi 2,9 triệu tấn và châu Đại Dương 0,7 triệu tấn [1], [21]. Từ năm 2010 đến 2019, lượng RTĐT tăng từ 33,8 triệu tấn lên đến 53,6 triệu tấn, ước tính mỗi năm tăng từ 3-5%.
Năm 2030, dự kiến lượng RTĐT đạt 74 triệu tấn [21], [5]. Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, năm 2021, nếu tính theo đầu người thì lượng RTĐT được tạo ra là khoảng 7,6 kg/người [21]. Tại Hoa Kỳ, hàng năm ước tính có hơn 130 triệu thiết bị điện tử bị lỗi thời, riêng máy tính thì có khoảng 500 triệu máy lỗi thời từ năm 1997 đến 2007. Ở Nhật Bản, có khoảng 4 610 triệu máy tính bị loại bỏ vào tháng 12 năm 2010.
Tại Trung Quốc, do việc sản xuất các thiết bị điện - điện tử nên hàng năm việc tạo ra RTĐT khoảng 1,11 triệu tấn kể từ năm 2003 [22]. Tại Malaysia, tính theo đầu người, mỗi ngày lượng RTĐT được tạo ra khoảng 0,8 – 1,3 kg/người. Đến năm 2009, nó đã tăng lên 134 nghìn tấn và dự kiến vào năm 2020 sẽ tăng 1,1 triệu tấn với tốc độ 14% hàng năm [20]. Ở Nam Phi và Trung Quốc, từ năm 2007 đến 2020, RTĐT tăng 200 – 400% và ở Ấn Độ là 500%.
Và cũng tại thời điểm này, lượng tivi được thải ra cao gấp 1,5 đến 2 lần ở Trung Quốc và Ấn Độ. Riêng với Ấn Độ, hàng năm RTĐT tạo ra khoảng 146 nghìn tấn và vào năm 2020 lượng tủ lạnh bị loại bỏ dự tính sẽ tăng gấp đôi hoặc gấp ba lần. Những dữ liệu này chỉ bao gồm RTĐT tạo ra trên phạm vi quốc gia và không bao gồm chất thải nhập khẩu (cả hợp pháp và bất hợp pháp). Lý do một lượng lớn RTĐT được nhập vào Ấn Độ dưới danh nghĩa từ thiện để không bị đánh thuế [20].
Tình hình rác thải điện tử tại Việt Nam Theo thống kê của Tổ chức Thống kê rác thải điện tử toàn cầu (GESP) ở Việt Nam, trong năm 2019 sản phẩm điện tử đưa ra thị trường có đến 514 nghìn tấn, khối lượng chất thải phát sinh là 257 nghìn tấn. Cũng theo nguồn này, nếu tính theo đầu người thì tỉ lệ tiêu thụ sản phẩm thiết bị điện – điện tử là 5,4 kg/người, lượng RTĐT khoảng 2,7 kg/người. Vì vậy, Việt Nam cũng là một trong những nước có khối lượng RTĐT khá cao và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong tương lai [2]. Bên cạnh đó, theo số liệu của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, lượng thiết bị điện – điện tử được thải ra môi trường khoảng hơn 3,77 triệu thiết bị, ước tính khối lượng khoảng 113 nghìn tấn vào năm 2010.
Việt Nam có khối lượng RTĐT phát sinh khoảng 100 nghìn tấn mỗi năm, ước tính có thể lên tới 250 nghìn tấn vào năm 2025 [23]. Theo Thạc sĩ Nguyễn Văn Phước – cựu Phó Giám đốc Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, khối lượng RTĐT được thải ra môi trường là rất lớn, chỉ riêng TP.HCM là có khoảng 6800 – 7000 tấn/ngày, hơn 1,7 triệu tấn/năm. RTĐT đô thị liên tục tăng hàng năm từ 8 – 10%. Trong số đó, chất thải rắn công nghiệp là 1200 – 5 1500 tấn/ngày, chất thải nguy hại là 200 – 300 tấn/ngày, những thứ có khả năng tái chế như plastic, giấy, kim loại là chiếm 10 – 25% khối lượng [24].
Tổng quan về vàng (Au) 1. Đặc điểm của kim loại vàng (Au) [25] Vàng có tên Latinh là Aurum, ký hiệu là Au, là một kim loại quý hiếm có màu sáng chói ở thời thượng cổ cách đây 4500 năm. Nó có số nguyên tử 79, chu kỳ 6, nhóm IB, nhiệt độ nóng chảy là 1063,4 oC, khối lượng riêng là 19,32 g/cm3, cấu hình electron 4f14 5d10 6s1, cấu trúc tinh thể lập phương tâm mặt. Bên cạnh đó, vàng là kim loại mềm, đặc, dễ uốn, có tính dẫn điện và dẫn nhiệt tốt.