CHƯƠNG 1.1 Lý thuyết về tiếng lóng Từ lóng là một trong những ngôn ngữ đặc thù mang tính văn hóa. Nó xuất hiện ở hầu hết các quốc gia. Một ngôn ngữ sống như tiếng Anh là một dòng chảy năng động của các thuật ngữ nói và viết, không ngừng phát triển. Bất cứ khi nào mọi người sử dụng ngôn ngữ, họ khiến nó chảy vào trong và xung quanh chính nó, tạo ra ý nghĩa, cách diễn đạt mới.
Thuật ngữ “tiếng lóng” phản ánh tính năng động của ngôn ngữ và do đó rất mơ hồ và khó hiểu, mơ hồ. Mặc dù nó được lan truyền rộng rãi đến mức hiện nay có thể dễ dàng tìm thấy trên thực tế ở tất cả các loại tác phẩm văn học đương đại, nhưng không có cơ chế dễ dàng để xác định nó. Sự thật tuyệt đối về tiếng lóng đã được Lighter và Dumas tiết lộ rằng ai cũng có thể nhận ra tiếng lóng, nhưng không ai có thể định nghĩa nó. Hầu như không có thuật ngữ nào mơ hồ và khó hiểu như thuật ngữ tiếng lóng.
Tiếng lóng là một chủ đề gây tranh cãi hiện nay và cuộc tranh luận về định nghĩa, phân loại và ngôn ngữ học của nó sự liên quan vẫn còn nóng. Hầu hết các nhà ngôn ngữ học và nhà từ điển học đều thừa nhận rằng nguồn gốc của từ lóng là “không chắc chắn” hoặc "không xác định". Một ngoại lệ đáng chú ý là Skeat, một nhà soạn từ điển, người cho rằng tiếng lóng ( ngôn ngữ thô tục) có nguồn gốc từ Scandinavia và là nguồn gốc của slyngva trong tiếng Iceland (to sling), có nghĩa là có thể được so sánh với động từ tiếng Na Uy slengja (đeo quai hàm) và danh từ tiếng Na Uy slengjeord (từ lóng), dùng để nói những lời xúc phạm. Tương tự như vậy, Partridge được Eble giới thiệu trong cuốn sách “Tiếng lóng và sự hòa đồng ngôn ngữ trong nhóm của sinh viên đại học” nói rằng sự giống nhau giữa tiếng lóng của từ tiếng Anh và tiếng sling của người Scandinavi cho thấy những từ này đã phát triển từ một gốc tiếng Đức phổ biến.
Ngược lại, một trong những nhà nghiên cứu người Thụy Điển về tiếng lóng Anna-Brita Stenstrom, trong bài viết của mình: “Từ tiếng lóng đến ngôn ngữ: một mô tả dựa trên cuộc nói chuyện của tuổi teen” cho thấy một trong những người Thụy 1 Điển. Từ điển tham khảo “Bonniers Stora Lexicon” khẳng định rằng từ lóng tiếng Thụy Điển xuất hiện từ tiếng lóng tiếng Anh và không rõ nguồn gốc. Ngoài ra, cô ấy đưa ra một ý kiến giống hệt nhau về Bách khoa toàn thư Thụy Điển “Nationalencyclopedin”, trong đó nói rằng từ lóng không phải là được giới thiệu ở các nước Bắc Âu cho đến giữa thế kỷ 19. Sự xuất hiện đầu tiên của từ lóng có niên đại năm 1756 trong OED, theo đó nguồn cuối cùng là “không rõ ràng”.
Do đó, từ “tiếng lóng” xuất hiện trong tiếng Anh sớm hơn trong các ngôn ngữ của các nước Scandinavi. Một quan điểm khác về hình thức của từ lóng cho rằng nó không phải là một từ tiếng Anh; đó là thuật ngữ của người Gipsy để chỉ ngôn ngữ bí mật của họ. Một số nhà ngữ văn khác cho rằng nó bắt nguồn từ người Pháp. Hiện tượng tiếng lóng xuất hiện trước khi nó có tên tiếng lóng.
Theo Swift tiếng lóng cũng lâu đời như lời nói, và dấu vết của điều này có thể được tìm thấy trong chừng mực chúng ta có thể tham khảo lại. Tiếng Anh cổ Tiếng lóng thô hơn và phụ thuộc nhiều vào sự thô tục hơn tiếng lóng hiện đại của chúng ta. Tiếng lóng thời đó thường được gọi là ngôn ngữ “nhanh chóng”, đại diện cho cả ngôn ngữ không thể và tiếng lóng. Nó là điều quan trọng cần nhấn mạnh là thuật ngữ “tiếng lóng” được Grose công nhận lần đầu tiên vào năm 1785.
Ông đã định nghĩa nó là “ngôn ngữ không chính thức hoặc ngôn ngữ thô tục”. Nhà nghiên cứu người Ý Winona Bullard viết rằng các phương ngữ và cách phát âm khác nhau trong Thời Trung Cổ đại diện cho ý nghĩa đầu tiên của thuật ngữ “tiếng lóng”. Nó được đại diện bởi một số các nhà văn như Chauser, William Caxton và William xứ Malmesbury. Ý nghĩa thời nay vì tiếng lóng chỉ bắt đầu hình thành vào thế kỷ 16 hoặc 17.
Tiếng Anh Tội phạm Cant được coi là điểm bắt đầu của tiếng lóng. Đó là một kiểu nói mới được bọn tội phạm sử dụng trong quán rượu và nhà cờ bạc. Lúc đầu người ta tin rằng tội phạm người Anh không thể có nguồn gốc từ Romania hoặc có nguồn gốc từ Romania xảy ra ở Pháp. Cô cũng lập luận rằng một số vở kịch nổi tiếng của Richard Brome (1635), những bài thơ và các bài hát của Copland (1925) đã có một số từ lóng.
Đến những năm 1700, nền văn hóa sự khác biệt ở Mỹ đã bắt đầu ảnh hưởng đến cộng đồng nói tiếng Anh và tiếng lóng bắt đầu mở rộng. Trong thế kỷ 18, tiếng lóng được coi là cách sử dụng tiếng Anh không chính xác và bị coi là bị cấm. 2 Eric Partridge trong “Tiếng lóng hôm nay và ngày hôm qua” lưu ý rằng từ khoảng những năm 1850, tiếng lóng đã có là thuật ngữ được chấp nhận cho lời nói thông tục "bất hợp pháp". John Ayto trong phần Giới thiệu “Từ điển tiếng lóng hiện đại Oxford” viết rằng: “Lần đầu tiên thuật ngữ “tiếng lóng” được áp dụng vào giữa thế kỷ 18 là thuật ngữ đặc biệt từ vựng được sử dụng bởi bất kỳ nhóm người nào có tính cách thấp kém và đáng chê trách.
Trong những thế kỷ trước nó được coi là kẻ trộm không thể hoặc kiểu mẫu của những thế kỷ trước.” Ngày nay tiếng lóng không liên quan đến tội phạm. Nó có được hình thức của nó và bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa khác nhau và sự đổi mới của công nghệ, đã để lại cho xã hội nhiều tiếng lóng cực đoan từ tiếng lóng đường phố đến tiếng lóng của người Mỹ gốc Phi. Hơn nữa, tiếng lóng có xu hướng bắt nguồn từ các nền văn hóa nhóm trong một xã hội. biểu thức tiếng lóng thường thể hiện thái độ và giá trị của các thành viên trong nhóm.
Do đó, họ góp phần tạo nên ý thức về nhóm danh tính và có thể truyền tải thông tin đến người nghe về lý lịch của người nói. Trước một biểu thức thích hợp trở thành một tiếng lóng, nó phải được áp dụng rộng rãi. Theo Đỗ Hữu Châu – Giáo trình Việt ngữ – tập II – NXB Giáo dục Hà Nội (1962)- Tiếng lóng (argot des déclassés) bao gồm một số từ bí hiểm, để che giấu tư tưởng người nói, không cho nhiều người ngoài tập đoàn xã hội mình biết. Ngoài ra với tư cách là nhà ngôn ngữ học – Tác giả bổ sung thêm ý nghĩa thuộc lĩnh vực chuyên môn: tiếng lóng bao gồm các đơn vị từ vựng thuộc loại thứ hai trong biệt ngữ – tức là những tên gọi chồng lên trên những tên gọi chính thức (Đỗ Hữu Châu – Giáo trình từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt – NXB Giáo dục Hà Nội 1981).
Một số ý kiến khác của Lưu Văn Lăng, Hoàng Thị Châu – Những nhà ngôn ngữ học thuộc trường Đại học Hà Nội đã mô tả: Tiếng lóng được liệt kê vào loại không tốt đẹp vì phạm vi lưu hành là trong đám người làm nghề bất lương, bị xã hội ngăn cấm như bọn cờ bạc bịp, bọn ăn cắp, bọn buôn lậu. Một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ khác cũng nhận định: tiếng lóng khác với biệt ngữ vì có nghĩa xấu. Gần đây Nguyễn Văn Khang đã cho ấn hành “tiếng lóng Việt Nam” dưới dạng một tác phẩm “Từ điển từ ngữ lóng tiếng Việt” – NXB Khoa học Xã hội 2001 – đã đặt 3 cho ta nhiều vấn đề đáng quan tâm trong cách nhận định và cách biên soạn một tập Tự điển tiếng lóng. Tiếng lóng chỉ sống trong một giới riêng – phần lớn chỉ định giới lưu manh, trộm cướp hay giới làm gái – Tuy nhiên, nhiều tiếng lóng phát sinh từ trong giới này – có lúc đã được tôn vinh lên hàng ngôn ngữ văn học.
Như vậy, thử nhìn lại chúng ta có thể cảm nhận được thế giới tiếng lóng này qua một số tác phẩm văn thơ Việt Nam từ thế kỷ 19 đến nay dù từng hấp thụ nền tảng giáo dục Hán học (văn chương Hán Nôm), hay nền tảng tân học (thuộc thế hệ văn chương chữ La tinh) để phục vụ công chúng văn học thuộc trào lưu lãng mạn – mà chúng ta có thể dẫn chứng điển hình như sau: Bắt đầu từ tác phẩm “Kim Vân Kiều” của Nguyễn Du – giá trị của tiếng lóng ở chốn lầu xanh đã được vinh danh. Nói cách khác Nguyễn Du đã “đỡ đầu” cho loại ngôn ngữ tưởng chừng như chỉ sống ngoài vòng pháp luật hay ngoài luồng giao lưu văn hóa – được sống “chung chăn chung chiếu” với hệ thống ngôn ngữ văn hóa truyền thống để phục vụ công chúng văn học chữ Nôm. Không thể nào mô tả một nàng Kiều bằng những lời “sơn son thiếp vàng” mà phải bằng những lời lẽ phát ngôn từ “cửa miệng” của một “mụ tú bà” bằng một chuỗi tiếng mà giới sống bên lề xã hội Phong Kiến thời ấy – mới thấy được giá trị của một cuộc đời của cô gái lầu xanh đang sống trong động buôn người ([5]). Con kia đã bán cho ta Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây Lão kia có giở bài bây Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe Cớ sao chịu tốt một bề Gái tơ mà đã ngứa nghề lắm sao! Tiếng lóng được nhận dạng trong giới làng chơi này thật đa dạng.
Riêng đối với cách gọi tên cho các cô gái trong giới này cũng thật nhiều phong cách “khác nhau”!. Do đó, tùy theo hoàn cảnh, tùy thành phần xã hội mà có nhiều “danh hiệu” khác nhau. Giới bình dân gọi là “gái điếm, gái đứng đường” mà các nhà văn hào đặt 4 tên là “làm vợ khắp người ta”. Tùy theo từng thời đại cách gọi cực đoan này cũng thay đổi trong quá trình tương tác “văn hóa” qua nhiều thời kỳ: gái bán hoa, chị em ta, tắc-xi gơn (taxi girl), gái gọi, gái bán trôn, gái đèn mờ, gái lầu xanh, gái đèn đỏ….
Tùy theo hoàn cảnh, xã hội, tình hình thời thế mà phát triển các nét đặc thù khác nhau để từ đó có thể giúp ích cho những nhà nghiên cứu sử học, chính trị học… suy luận thêm về đặc điểm của xã hội thời ấy. Trách người quân tử bạc tình Chơi hoa rồi lại đem cành bán rao Câu ca dao trên được cho là của Nữ đế Lý Chiêu Hoàng nói về người chồng cũ của mình là vua Trần Thái Tông.