Luận án tiến sĩ đặc điểm dịch tễ của bệnh sốt xuất huyết dengue tại huyện long thành tỉnh đồng nai từ năm 2008 2012 và kết quả của một số giải pháp can thiệp

Luận án nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sốt xuất huyết dengue tại huyện Long Thành, Đồng Nai giai đoạn 2008-2012 và hiệu quả các giải pháp can thiệp.

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2020

179
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

1.2. Ổ CHỨA, ĐƯỜNG TRUYỀN, PHƯƠNG THỨC LÂY TRUYỀN

1.3. KHẢ NĂNG LAN TRUYỀN VI RÚT DENGUE CỦA MUỖI AEDES

1.4. ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VEC-TƠ SỐT XUẤT HUYẾT

2. ĐẶT VẤN ĐỀ

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4. BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU

3.5. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

3.6. KỸ THUẬT KHỐNG CHẾ SAI SỐ

3.7. CÁC HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

3.8. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sốt xuất huyết Dengue là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng tại Việt Nam, đặc biệt tại tỉnh Đồng Nai. Từ năm 2008 đến 2012, huyện Long Thành ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh cao, với nhiều yếu tố tác động như đô thị hóa, biến đổi khí hậu và thói quen sinh hoạt của người dân. Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm dịch tễ của bệnh sốt xuất huyết và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp y tế. Việc hiểu rõ tình hình dịch tễ sẽ giúp xây dựng các chiến lược phòng chống hiệu quả hơn trong tương lai.

1.1. Tình hình dịch tễ sốt xuất huyết Dengue

Tình hình dịch tễ của bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Long Thành cho thấy sự gia tăng đáng kể số ca mắc trong giai đoạn 2008-2012. Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh trên 100.000 dân trung bình hơn 200 ca, cho thấy mức độ lây lan cao. Các yếu tố như sự hiện diện của muỗi Aedes aegypti, điều kiện môi trường sống và thói quen sinh hoạt của người dân đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của dịch bệnh. Việc nắm bắt các yếu tố này là cần thiết để có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến 2012. Đối tượng nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân mắc sốt xuất huyết và các hộ gia đình trong khu vực. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu từ các bệnh viện, trạm y tế và khảo sát cộng đồng. Các chỉ số dịch tễ như tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong và các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh được phân tích. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình dịch tễ và hiệu quả của các biện pháp can thiệp y tế.

2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm hồ sơ bệnh án, báo cáo từ các trạm y tế và khảo sát trực tiếp tại cộng đồng. Các chỉ số như tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong và các yếu tố môi trường được ghi nhận và phân tích. Việc sử dụng các phương pháp thống kê giúp xác định mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ và sự bùng phát của dịch bệnh. Kết quả từ nghiên cứu này sẽ là cơ sở để đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả hơn trong tương lai.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự gia tăng đáng kể số ca mắc sốt xuất huyết trong giai đoạn 2008-2012. Các biện pháp can thiệp y tế như chiến dịch truyền thông, diệt lăng quăng và kiểm soát muỗi đã được triển khai. Đánh giá hiệu quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh giảm sau khi thực hiện các biện pháp này. Sự thay đổi trong nhận thức và hành vi của người dân cũng góp phần quan trọng trong việc kiểm soát dịch bệnh. Kết quả này khẳng định tầm quan trọng của việc kết hợp giữa các biện pháp y tế và sự tham gia của cộng đồng.

3.1. Hiệu quả can thiệp

Các biện pháp can thiệp y tế đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc giảm tỷ lệ mắc sốt xuất huyết. Cụ thể, tỷ lệ mắc bệnh giảm từ 200 ca/100.000 dân xuống còn 150 ca/100.000 dân sau khi thực hiện các chiến dịch truyền thông và diệt muỗi. Sự tham gia tích cực của cộng đồng trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa đã tạo ra sự thay đổi tích cực trong nhận thức và hành vi của người dân. Điều này cho thấy rằng, việc nâng cao nhận thức cộng đồng là yếu tố then chốt trong công tác phòng chống dịch bệnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ đặc điểm dịch tễ của bệnh sốt xuất huyết dengue tại huyện long thành tỉnh đồng nai từ năm 2008 2012 và kết quả của một số giải pháp can thiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi-rút Dengue gây ra. Đây là bệnh truyền qua côn trùng trung gian là muỗi vằn phổ biến nhất hiện nay. Bệnh thường có triệu chứng sốt cao, đột ngột, kéo dài từ 2 đến 7 ngày, kèm theo đau đầu, đau cơ, đau xương, khớp và nổi ban. Bệnh diễn biến nặng có biểu hiện xuất huyết như xuất huyết dưới da, niêm mạc, xuất huyết nội tạng, gan to và có thể tiến triển đến hội chứng sốc Dengue, có thể dẫn đến tử vong [3], [6], [93].

Biến đổi khí hậu, trái đất nóng lên, gia tăng thương mại, du lịch cùng với bùng nổ dân số, đô thị hóa không theo kế hoạch, thiếu các biện pháp phòng chống hiệu quả đã làm cho Sốt xuất huyết hiện nay trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng rất quan trọng không chỉ ở nước ta mà còn là vấn đề chung của hơn 130 nước trên thế giới, đặc biệt ở vùng Đông Nam Á-Tây Thái Bình Dương. Hiện tại, có hơn 3 tỷ người trên thế giới đang sống trong vùng dịch tễ có nguy cơ sốt xuất huyết Dengue. Mỗi năm, trên thế giới có hơn 100 triệu người nhiễm vi-rút Dengue, trong đó trên 500.000 người phải nhập viện và hàng chục ngàn ca tử vong [61],[92], [96]. Hiện nay, sốt xuất huyết Dengue vẫn chưa có thuốc đặc trị, chưa có vắc-xin phòng ngừa hiệu quả.

Biện pháp phòng chống dịch chủ yếu vẫn là kiểm soát trung gian truyền bệnh cũng được WHO khuyến cáo trong chiến lược phòng chống sốt xuất huyết Dengue toàn cầu giai đoạn tiếp theo [33], [92], [94], [96]. Việt Nam nằm trong vùng dịch tễ sốt xuất huyết lưu hành cao và hiện nay là một trong 5 nước có gánh nặng sốt xuất huyết Dengue cao nhất ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương [41], [53], [98]. Trong vài chục năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam có hàng chục ngàn ca mắc SXHD. Đặc biệt, có nhiều năm con số mắc sốt xuất huyết Dengue tới hàng trăm ngàn ca.

Từ năm 1980 đến năm 2019, Việt Nam có 3.473 ca SXHD, trong đó có 10.736 ca tử vong. Đặc biệt, có những năm, số tử vong hàng năm lên tới hơn 1500 người (phụ lục 18) [25], [53]. 2 Lý do cơ bản làm cho sốt xuất huyết Dengue rất khó khống chế là: 1/Vi-rút Dengue có 4 chủng virut khác nhau miễn dịch chéo rất yếu, chưa có vaccine phòng bệnh nên một người có thể bị mắc SXHD nhiều lần. 2/Tác nhân truyền bệnh là hai loại muỗi Aedes thích hút máu vào sáng sớm và chiều tà, là thời điểm con người khó đề phòng hơn loại muỗi hút máu về đêm, loại muỗi này chỉ hút máu người và có thể hút ngắt quãng, hút máu nhiều người, lại có khả năng bay xa tới 400m nên khả năng gây dịch cao.

3/Loại muỗi này chỉ thích đẻ trứng tại các điểm chứa nước sạch, nước mưa tồn đọng trong khu dân cư, nên việc phòng chống bệnh này phụ thuộc rất nhiều vào thói quen sinh hoạt và thói quen lưu trữ nước sạch và các hành vi làm sạch môi trường liên quan đến chu trình phát triển của muỗi Aedes [25], [31], [36], [94]. Cũng chính vì những lý do nêu trên nên mặc dù sốt xuất huyết Dengue đã được nghiên cứu rất nhiều bởi các tác giả trong và ngoài nước nhưng nó vẫn luôn có tính mới và tính thời sự khi áp dụng cho từng vùng miền khác nhau với những đặc điểm khí hậu thời tiết, văn hoá, xã hội, trình độ dân trí và các phong tục, lối sống khác nhau. Ngoài ra việc nghiên cứu và khống chế muỗi muỗi Aedes không chỉ dự phòng được bệnh sốt xuất huyết Dengue, mà còn có thể dự phòng được cả bệnh Zika và sốt vàng da, do loại muỗi Aedes này cũng là tác nhân truyền bệnh Zika, sốt vàng da [4], [5], [94]. Tỉnh Đồng Nai thuộc miền Đông Nam bộ, dân số hơn 3,2 triệu người, là tỉnh có số mắc sốt xuất huyết Dengue hàng đầu khu vực phía Nam với tỷ lệ mắc trên một trăm ngàn dân trung bình hơn 200 ca.

Long Thành là huyện có số mắc sốt huyết huyết Dengue cao ở nhóm đầu của tỉnh trong nhiều năm qua. Long Thành là huyện có nhiều khu công nghiệp nên nhiều công nhân từ các tỉnh khác về đây làm ăn, sinh sống. Tại đây, xuất hiện nhiều khu nhà trọ tự phát, không theo qui hoạch. Việc đảm bảo vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch chưa theo kịp tốc độ phát triển đã làm cho sốt xuất huyết Dengue lan rộng, kéo dài trên địa bàn huyện.

Từ năm 2008 đến nay số mắc sốt xuất huyết hàng năm tại Long Thành luôn ở nhóm huyện có số mắc sốt xuất huyết cao của tỉnh (phụ lục 5). 3 Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Đặc điểm Dịch tễ của bệnh sốt xuất huyết Dengue tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai từ năm 2008 – 2012 và kết quả của một số giải pháp can thiệp” với hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm dịch tễ sốt xuất huyết Dengue tại huyện Long Thành, Đồng Nai từ năm 2008-2012. Đánh giá kết quả can thiệp phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Do huyện Long Thành có những đặc điểm dân cư, môi trường sống tương tự như nhiều khu dân cư quanh các khu công nghiệp, nông, lâm trường tại miền Nam nói riêng và trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung nên chúng tôi hy vọng rằng, kết quả của nghiên cứu này có thể được xem xét áp dụng, nhân rộng cho nhiều địa phương tương tự khác. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất chỉ có 9 quốc gia báo cáo có ca SXHD. Sau đó, SXHD liên tục gia tăng cả về số quốc gia, vùng lãnh thổ và cả về số ca mắc và tử vong.

Trên thế giới, SXHD đã tăng gấp 30 lần trong 50 năm qua (). Những năm gần đây, SXHD đã trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng rất quan trọng của hơn 130 nước trên thế giới với khoảng 3,9 tỷ người ở trong vùng nguy cơ. Vùng Đông Nam Á-Tây Thái Bình Dương đã trở thành khu vực có SXHD lưu hành cao nhất thế giới với hơn 70% tổng số ca mắc và tử vong của toàn thế giới [39], [41], [61], [94]. Trước đây, sốt xuất huyết là một trong những nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp nhập viện và tử vong ở trẻ em.

Trong những năm gần đây bệnh cũng gặp nhiều ở cả người lớn với nhiều triệu chứng lâm sàng nặng như xuất huyết dạ dày, xuất huyết não, suy đa tạng, tử vong [3], [41], [65], [67]. Việc cải thiện điều trị đã giúp giảm tỉ lệ tử vong do SXHD từ 8,26% trong giai đoạn 1964 đến 1974 xuống còn < 0,3% trong giai đoạn từ 1998 đến 2010. Tỉ lệ tử vong bệnh nhân SXHD nặng cũng giảm đáng kể từ 2,47% năm 1998 xuống còn < 1% trong giai đoạn 2004-2010 [13], [67]. Hiện nay, bệnh SXHD chưa có thuốc đặc trị cũng như chưa có vắc-xin phòng ngừa hiệu quả trên cộng đồng.

Biện pháp phòng chống chính là kiểm soát véc-tơ trung gian truyền bệnh. Các biện pháp chính bao gồm diệt muỗi ngay từ giai đoạn ấu trùng, hạn chế tối đa nơi muỗi trú ẩn, sinh sản, tránh không để muỗi đốt [30], [33], [94]. Ổ chứa, đƣờng truyền, phƣơng thức lây truyền Ngƣời là ổ chứa và là nguồn truyền nhiễm chủ yếu của bệnh SXHD trong chu trình “người - muỗi Ae.aegypti - người”. Ngoài ra, người ta mới phát hiện ở 5 Malaysia có loài khỉ sống ở các khu rừng nhiệt đới cũng mang vi-rút Dengue.

Aedes aegypti có nguồn gốc từ châu Phi. Loài muỗi này dần dần lan tràn ra hầu hết các khu vực có khí hậu nhiệt đới đầu tiên là nhờ tàu thuyền và máy bay [4], [24], [61], [98]. Đƣờng truyền SXHD qua trung gian là muỗi vằn. Vi-rút truyền từ người này sang người khác qua các vết đốt do véc-tơ.

Khi vi-rút Dengue vào cơ thể người, chúng tồn tại trong máu từ 2 đến 7 ngày. Trong khoảng thời gian này nếu muỗi Aedes hút máu thì vi-rút được truyền cho muỗi và sau đó lúc hút máu nó sẽ tiếp tục truyền vi-rút cho người khác. Phƣơng thức lây truyền: Aedes hút máu người có chứa vi rút DEN Vi rút DEN xuyên qua dạ dày muỗi và đến tuyến nước bọt Vi rút DEN sinh sản trong tuyến nước bọt của muỗi Vi rút DEN theo nước bọt ra khi muỗi hút máu Hình 1. Các bước muỗi Aedes truyền vi rút Dengue [60] Sau khi hút máu người có chứa vi rút Dengue, thời kỳ ủ bệnh ở muỗi khoảng 8 đến 10 ngày, vi-rút tiếp tục sinh sản trong tuyến nước bọt của muỗi.

Sau giai đoạn này vi-rút xuất hiện ở máu ngoại vi của bệnh nhân và có thể truyền bệnh. Khi hút máu một người muỗi dùng kim đâm qua da, vi rút Dengue theo nước bọt ra và làm lây truyền vi-rút Dengue. Số người nhiễm vi-rút Dengue trong cộng đồng càng nhiều thì nguy cơ lan truyền của bệnh càng lớn. Ước tính cứ 1 trường hợp SXHD có sốc vào bệnh viện thì có khoảng 200-500 người bị 6 nhiễm vi-rút Dengue có triệu chứng hay không có triệu chứng lâm sàng, nhất là ở vùng có mật độ muỗi Aedes cao [90], [98].

Muỗi Aedes có thể truyền vi rút Dengue cho trứng nên trứng nhiễm vi-rút trở thành muỗi mang vi-rút có thể dẫn đến việc lây lan dịch bệnh này. Vi-rút Dengue cũng có thể lây truyền qua đường sinh dục ở muỗi [90], [98]. Khả năng lan truyền vi rút Dengue của muỗi Aedes Muỗi Aedes là trung gian truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue, có thể bay trong bán kính 100 mét, khoảng bay của muỗi thường không vượt quá 300 mét từ ổ lăng quăng [90]. Muỗi trưởng thành có thể di chuyển đến các nơi khác cùng với những phương tiện di chuyển của con người.

Do đó, giúp chúng có thể nhanh chóng lây lan dịch. Nguy cơ lây truyền cho con người được coi là cao hơn ở những nơi có sự hiện diện của Aedes aegypti trong khu vực của Aedes albopictus. Điểm này được minh chứng cho sự bùng nổ của bệnh sốt xuất huyết Dengue khi kết hợp Aedes albopictus với Aedes aegypti. Đặc tính sinh học của véc-tơ SXHD Tuổi thọ của muỗi Aedes aegypti bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường, Aedes aegypti cái sống từ 20 đến 40 ngày, muỗi đực sống ngắn hơn từ 9 đến 12 ngày.

Tuổi thọ trung bình của muỗi đực là 20 ngày, muỗi cái là 30 ngày. Sau khi nở khoảng 48 giờ Aedes aegypti cái sẽ hút máu lần đầu tiên, trong một chu kỳ sinh thực muỗi hút máu nhiều lần. Muỗi Aedes aegypti cái hút máu vào ban ngày, cao điểm nhất vào sáng sớm và chiều tối.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu dịch tễ sốt xuất huyết dengue tại Long Thành, Đồng Nai (2008-2012) và hiệu quả can thiệp là một tài liệu quan trọng phân tích tình hình dịch tễ của bệnh sốt xuất huyết dengue tại khu vực Long Thành, tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn 2008-2012. Nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về sự lây lan và các yếu tố nguy cơ của bệnh mà còn đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp được áp dụng. Điều này giúp các nhà hoạch định chính sách và chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về cách kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh trong tương lai.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh truyền nhiễm và yếu tố môi trường liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện bắc yên tỉnh sơn la, Luận văn thạc sĩ y học thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh lào cai, và Luận văn thực trạng tự kỳ thị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị hiv aids tại phòng khám ngoại trú huyện đông anh hà nội năm 2017. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều về các vấn đề sức khỏe cộng đồng và cách tiếp cận hiệu quả trong nghiên cứu và can thiệp.