Đặc điểm dịch tễ học và ứng dụng mô hình toán học dự báo bệnh tiêu chảy tại tỉnh Hà Tĩnh

Luận án tiến sĩ y tế nghiên cứu y học đặc điểm dịch tễ học và ứng dụng mô hình toán học để dự báo bệnh tiêu chảy tại tỉnh hà tĩnh, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương

Chuyên ngành

Dịch tễ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

175
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. MỤC LỤC

1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.3. Bệnh tiêu chảy và căn nguyên gây bệnh

1.4. Phân tích các yếu tố liên quan

1.5. Mô hình toán học dự báo bệnh tiêu chảy

1.6. Đặc điểm địa điểm nghiên cứu

1.7. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1.8. Kết quả nghiên cứu

1.9. Hạn chế của luận án

PHỤ LỤC

appendix 1. NHẬT KÝ BỆNH TIÊU CHẢY

appendix 2. BẢNG THU THẬP SỐ LIỆU BỆNH TIÊU CHẢY VÀ CÁC YẾU TỐ THỜI TIẾT GIAI ĐOẠN 1992 – 2015

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dịch tễ học bệnh tiêu chảy tại Hà Tĩnh

Bệnh tiêu chảy là một trong những vấn đề y tế nghiêm trọng tại Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung như Hà Tĩnh. Theo thống kê, mỗi năm có khoảng 1,7 triệu ca bệnh tiêu chảy trên toàn cầu, trong đó có 1,5 triệu ca tử vong. Tại Hà Tĩnh, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cao, đặc biệt trong giai đoạn 2014-2015, với số ca bệnh được báo cáo lên tới 8.600 ca mỗi năm. Nghiên cứu này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về dịch tễ học của bệnh tiêu chảy tại khu vực này, từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng và ứng dụng mô hình toán học để dự báo bệnh. Việc hiểu rõ tình hình dịch tễ học sẽ giúp các nhà quản lý y tế có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn.

1.1. Tình hình dịch tễ học bệnh tiêu chảy

Tình hình dịch tễ học bệnh tiêu chảy tại Hà Tĩnh cho thấy sự gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. Theo số liệu từ Cục Y tế dự phòng, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi là 8,6%, cao hơn so với các bệnh khác như nhiễm khuẩn hô hấp. Các yếu tố như điều kiện vệ sinh kém, thiếu nước sạch và biến đổi khí hậu đã góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bệnh tiêu chảy thường xảy ra nhiều vào mùa mưa, khi mà lượng mưa lớn có thể làm phát tán mầm bệnh từ các nguồn nước không an toàn.

II. Mối liên quan giữa yếu tố thời tiết và bệnh tiêu chảy

Yếu tố thời tiết có ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh bệnh tiêu chảy. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm là những yếu tố chính tác động đến tỷ lệ mắc bệnh. Cụ thể, khi nhiệt độ tăng cao, nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy cũng tăng theo. Lượng mưa lớn có thể làm ô nhiễm nguồn nước, dẫn đến sự gia tăng các ca bệnh. Việc phân tích mối liên quan giữa các yếu tố thời tiết và bệnh tiêu chảy là cần thiết để xây dựng các mô hình dự báo chính xác hơn. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, việc sử dụng các yếu tố thời tiết trong hệ thống cảnh báo sớm sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.

2.1. Tác động của nhiệt độ và lượng mưa

Nghiên cứu cho thấy rằng nhiệt độ trung bình và lượng mưa có mối liên hệ chặt chẽ với số ca bệnh tiêu chảy. Cụ thể, khi nhiệt độ tăng lên, số ca bệnh tiêu chảy cũng tăng theo. Lượng mưa lớn, đặc biệt là trong mùa mưa, có thể làm gia tăng sự phát tán mầm bệnh từ các nguồn nước không an toàn. Điều này cho thấy rằng việc theo dõi các yếu tố thời tiết là rất quan trọng trong việc dự báo và kiểm soát bệnh tiêu chảy tại Hà Tĩnh.

III. Ứng dụng mô hình toán học trong dự báo bệnh tiêu chảy

Mô hình toán học đóng vai trò quan trọng trong việc dự báo bệnh tiêu chảy. Nghiên cứu đã áp dụng mô hình SARIMA để phân tích dữ liệu bệnh tiêu chảy và các yếu tố thời tiết tại Hà Tĩnh. Kết quả cho thấy mô hình này có khả năng dự báo chính xác tỷ lệ mắc bệnh trong ngắn hạn và trung hạn. Việc sử dụng mô hình toán học không chỉ giúp dự đoán số ca bệnh mà còn hỗ trợ các nhà quản lý y tế trong việc lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó kịp thời với dịch bệnh. Điều này có thể giúp giảm thiểu gánh nặng bệnh tật cho cộng đồng.

3.1. Mô hình SARIMA và kết quả dự báo

Mô hình SARIMA đã được áp dụng để phân tích chuỗi số liệu bệnh tiêu chảy từ năm 1992 đến 2015. Kết quả cho thấy mô hình này có thể dự đoán chính xác số ca bệnh trong các tháng tiếp theo, từ đó giúp các nhà quản lý y tế có thể chuẩn bị các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Việc áp dụng mô hình toán học trong dự báo bệnh tiêu chảy tại Hà Tĩnh không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng mà còn góp phần nâng cao chất lượng công tác y tế tại địa phương.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Bệnh tiêu chảy và căn nguyên gây bệnh Một số khái niệm - Tỷ suất mới mắc của một bệnh là tốc độ xuất hiện các trường hợp bệnh mới trong một khoảng thời gian ở một quần thể xác định, trong khi tỷ lệ hiện mắc là số trường hợp đang có bệnh ở một quần thể xác định tại một thời điểm [7]. - Tỷ lệ mắc mới tích lũy là đơn vị đo tần số xuất hiện một sự kiện (ví dụ như những trường hợp mới mắc một loại bệnh) trong một quần thể trong một khoảng thời gian xác định. Tỷ lệ mới mắc tích lũy thường được biểu diễn dưới dạng số trường hợp mới mắc trên 1.000 người hoặc trên 100.

- Báo cáo ca bệnh tiêu chảy hàng tháng là số lượng ca mắc mới/100.000 dân theo tháng, năm. Báo cáo này dựa vào hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm được Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế tổng hợp với số liệu mắc và chết/100.000 dân theo tỉnh và được xuất bản hành năm [1]. Gánh nặng bệnh tật tiêu chảy Bệnh tiêu chảy là nguyên nhân đứng thứ 2 gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Hàng năm, tiêu chảy là nguyên nhân gây tử vong cho 1,5 triệu trẻ em trên toàn thế giới.

Bệnh tiêu chảy có thể kéo dài nhiều ngày, gây mất nước - muối và có thể dẫn đến tử vong. Trẻ em bị suy dinh dưỡng hoặc miễn dịch kém là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi bệnh tiêu chảy [128]. Tiêu chảy được định nghĩa là đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nước từ 3 lần một ngày trở lên (hoặc đi ngoài nhiều lần hơn bình thường). Bệnh tiêu chảy thường là triệu chứng của một nhiễm trùng trong đường tiêu hóa do nhiều loại vi khuẩn, vi rút hoặc ký sinh trùng gây ra.

Nhiễm khuẩn lây truyền qua thức 5 ăn hoặc nước uống bị nhiễm khuẩn hoặc từ người này sang người khác do vệ sinh kém [128]. Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bệnh tật ở trẻ em trên toàn thế giới. Hầu hết tiêu chảy đều có nguyên nhân từ nguồn thức ăn và nước uống bị nhiễm khuẩn. Trên toàn thế giới có khoảng 1 tỷ người không tiếp cận được nguồn nước sạch và 2,5 tỷ người không được tiếp cận các điều kiện vệ sinh cơ bản [128].

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu về xu hướng bệnh tiêu hóa giai đoạn 2000-2010, bệnh tiêu chảy có xu hướng giảm nhẹ, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy giảm từ 12. Tỷ lệ tử vong cũng giảm đáng kể từ 0,1ca/100.000 dân năm 2001 xuống còn 0,01 ca/100. Giai đoạn 2014 – 2015, khu vực Miền Trung có tỷ lệ mắc/ 100.000 dân lần lượt là 725,57 và 591,29 ca bệnh ao hơn các khu vực khác. Kết quả điều tra cắt ngang ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc là 8,6% trẻ có tiêu chảy trước 2 tuần điều tra [10].

Tỷ lệ mắc, chết của bệnh tiêu chảy tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010 [13] 6 Hình 1. Tỷ lệ mắc tiêu chảy trung bình theo tháng trong 10 năm giai đoạn 2000 – 2010 [13] Số liệu xuyên suốt từ năm 2000 - 2010 đã cho thấy bệnh tiêu chảy có tỷ lệ mắc cao vào các tháng 5-7 (104-111 ca/100.000 dân) và thấp nhất vào tháng 1 (84 ca/100. Bệnh tiêu chảy có nguyên nhân do vi khuẩn Bệnh tiêu chảy do phẩy khuẩn tả Bệnh tả là nhiễm trùng đường ruột cấp tính gây ra do sử dụng thực phẩm và nước uống nhiễm phẩy khuẩn tả (Vibrio cholerae). Bệnh tả có thời gian ủ bệnh ngắn và sản xuất độc tố gây tiêu chảy mất nước dẫn đến mất nước trầm trọng, thậm chí tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Ngoài ra bệnh nhân còn kèm theo triệu chứng nôn nhiều [129]. Hầu hết những người nhiễm phẩy khuẩn tả không có biểu hiện bệnh, mặc dù phân đã nhiễm phẩy khuẩn này từ 7-14 ngày. Khi bị bệnh, 80-90% các trường hợp bệnh là nhẹ hoặc trung bình và trên lâm sàng khó phân biệt được với các loại tiêu chảy cấp tính khác. Dưới 20% bệnh nhân biểu hiện các triệu chứng điển hình của bệnh tả như dấu hiệu mất nước vừa hoặc nặng [129].

7 Bệnh tả vẫn là một vấn đề y tế công cộng quan trọng trên toàn thế giới. Mặc dù nhiễm phẩy khuẩn tả ít được phát hiện, nhiều vụ dịch tả lớn vẫn xảy ra ở Haiti, Việt Nam và Zimbabwe trong những năm gần đây. Các nhà khoa học gần đây ước tính có khoảng 1,4 tỷ người sống ở các nước có bệnh tả lưu hành trên toàn thế giới có nguy cơ mắc bệnh tả, và 2,8 triệu ca mắc tả ở các nước có bệnh tả lưu hành, trong khi đó con số này ở các nước không có bệnh tả lưu hành là 78.000 trường hợp. Hàng năm có khoảng 91.000 người tử vong do bệnh tả ở các nước lưu hành bệnh dịch này, và 2.500 người tử vong do bệnh này ở các nước không có dịch tả lưu hành [16].

Bệnh tiêu chảy cấp do Shigella Là bệnh lây theo đường tiêu hóa, tổn thương của bệnh là viêm đại tràng lan tỏa với loét nông, rộng với nhiều điểm xuất huyết. Biểu hiện lâm sàng: sốt vừa cao hoặc cao, mệt mỏi đau đầu, hội chứng lỵ: đau bụng dọc theo khung đại tràng, đau quặn thành cơn ở hố chậu trái. Tiêu chảy nhiều lần trong ngày, khi đại tiện có triệu chứng mót rặn, phân lỏng, nhầy và máu lẫn lộn như nước rửa thịt hoặc nước rửa cá, không dính bô. Xét nghiệm bạch cầu trung tính tăng, bệnh diễn biến kéo dài nếu không được điều trị đặc hiệu.

Báo cáo tổng quan về gánh nặng của tiêu chảy do Shigella năm 2016 ước tính rằng có 74.420 ca tử vong có nguyên nhân do Shigella đối với người trên 70 tuổi chiếm 30% nguyên nhân tử vong do tiêu chảy [52]. Nghiên cứu trên 600.000 người Băng la desh, Trung Quốc, Pakistan, Indonesia, Việt Nam và Thái Lan cho thấy, từ năm 2000-2004, tiêu chảy do Shigella chiếm 5% tổng số ca tiêu chảy. Tỷ lệ mắc tiêu chảy do Shigella ở trẻ em dưới 5 tuổi là 13,2/1000. Tại Việt Nam tiêu chảy do Shigella chiếm 4% trong tổng số ca mắc tiêu chảy ở mọi lứa tuổi, trong số đó tỷ lệ mắc tiêu chảy do Shigella ở trẻ em dưới 5 tuổi là 4,9/1000 trẻ [121].

8 Bệnh tiêu chảy do Salmonella Bệnh thương hàn do vi khuẩn Salmonella typhi gây nên, bệnh được lây truyền qua đường ăn uống những thức ăn hoặc nước uống bị nhiễm phân hoặc nước tiểu của những người bị nhiễm vi khuẩn này. Các triệu chứng của thương hàn thường có thể nhẹ hoặc nặng, xuất hiện sau 1-3 tuần tiếp xúc với mầm bệnh, bao gồm sốt cao, đau đầu, táo bón hoặc đi ngoài. Có thể dùng kháng sinh để điều trị bệnh này, tuy nhiên tỷ lệ kháng những loại kháng sinh thông thường là cao và phổ biến [131]. Bệnh thương hàn vẫn là nguyên nhân quan trọng cho gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới, đặc biệt ở các nước thu nhập thấp và trung bình [27].

Một nghiên cứu gần đây ở 5 quốc gia bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Pakistan và Việt Nam nhằm xác định gánh nặng bệnh tật của thương hàn đối với các quốc gia này cho thấy tỷ lệ mới mắc thương hàn rất khác nhau giữa các quốc gia nhưng cao ở Ấn Độ và Pakistan, Việt Nam và Trung Quốc có tỷ lệ mới mắc thấp. Tỷ lệ mắc thương hàn hàng năm (trên 100.000 người năm) trong nhóm 5-15 tuổi ở Indonesia là 180,3; trong khi đó ở Pakistan và Ấn Độ lần lượt là 412,9 và 493,5 [96]. Nhiều báo cáo tổng quan về thực trạng bệnh thương hàn trên thế giới ước tính rằng tổng số ca mắc thương hàn trong năm 2010 là 13,5 triệu trường hợp. Tuy nhiên số ca mắc là rất khác nhau giữa các khu vực, cao nhất ở khu vực tiểu Saharan châu Phi và Nam Á, 77,4/100.

Tổ chức Y tế thế giới ước tính rằng trong năm 2000, có tới 21.974 ca mắc và 216.510 trường hợp tử vong do thương hàn trên toàn thế giới [36]. Bệnh tiêu chảy có nguyên nhân do vi rút Rota và các vi rút khác Tiêu chảy cấp do vi rút Rota là nguyên nhân tử vong của 128515 trẻ năm 2016 trên toàn thế giới chiếm 27% tổng số tử vong do bệnh tiêu chảy [52]. Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ với các triệu chứng nôn ói, tiêu chảy, đau bụng, mất nước dễ dẫn đến trụy mạch và tử vong nếu không điều trị kịp thời. Người 9 là ổ chứa vi rút Rota duy nhất.

Các loại vi rút Rota ở động vật như chó, mèo, ngựa. không gây bệnh ở người. Phân của bệnh nhân hoặc người lành mang vi rút Rota sẽ làm ô nhiễm môi trường, đặc biệt là nguồn nước. Ngoài ra, có thể gây ô nhiễm thực phẩm và các vật dụng khác.

Vi rút Rota lây truyền qua đường phân - miệng, ngoài ra có thể lây theo đường hô hấp. Trẻ em có thể nhiễm cả trước và sau khi bị ốm kèm theo tiêu chảy. Trẻ càng nhỏ càng có nguy cơ nhiễm bệnh, thường hay gặp ở trẻ dưới 2 tuổi, đặc biệt là dưới 12 tháng. Tiêu chảy do vi rút Rota phân bố ở các nước có khí hậu nhiệt đới và ôn đới.

Ở các nước khí hậu ôn đới, bệnh thường xảy vào mùa đông. Trong khi đó ở các nước nhiệt đới, bệnh xảy ra rải rác quanh năm, năm 2016 trên thế giới có 258 173 300 lượt trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy do vi rút Rota [15]. Trong khi đó TCYTTG ước tính Noro vi rút là nguyên nhân hàng đầu gây nên các bệnh lây truyền qua đường thực phẩm là nguyên nhân của 125 triệu trường hợp mắc, trong khi (Campylobacter spp.) gây ra 96 triệu trường hợp mắc [75]. Tại Việt Nam, lần đầu tiên nghiên cứu và xác định vi rút Rota là nguyên nhân chính gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em vào năm 1980.

Đó là một bệnh rất phổ biến đứng thứ hai sau nhiễm trùng hô hấp cấp tính ở trẻ em. Ở miền Bắc, bệnh thường xảy ra vào mùa thu đông kéo dài tới mùa xuân (khi thời tiết mưa, lạnh, ẩm ướt). Ở miền Nam, bệnh xảy ra quanh năm, nhiều nhất là vào tháng ba và tháng chín. Tại Việt Nam có 56% số trẻ nhập viện do viêm dạ dày ruột cấp là do nhiễm vi rút Rota.

Hàng năm, số trẻ chết do vi rút Rota chiếm từ 4- 8% trong tổng số trẻ dưới 5 tuổi bị chết vì mọi nguyên nhân. Hệ thống giám sát trọng điểm vi rút Rota tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2015 cho thấy có 46,7% mắc tiêu chảy có nguyên nhân là vi rút Rota ở 8698 mẫu bệnh phẩm được thu thập [116].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu dịch tễ học và mô hình toán học dự báo bệnh tiêu chảy tại Hà Tĩnh là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích các yếu tố dịch tễ học liên quan đến bệnh tiêu chảy và xây dựng mô hình toán học để dự báo sự lây lan của bệnh tại địa phương này. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ mà còn đề xuất các giải pháp phòng ngừa hiệu quả, giúp cải thiện sức khỏe cộng đồng. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và những người quan tâm đến sức khỏe môi trường.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng và môi trường, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ y học thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh Lào Cai, nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em. Ngoài ra, Luận văn đánh giá chất lượng nước sông Nhuệ Đáy đoạn chảy qua địa phận thành phố Hà Nội năm 2016-2017 cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa chất lượng nước và sức khỏe cộng đồng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá sự tích lũy kim loại nặng trong đất trồng rau huyện Hoài Đức Hà Nội sẽ mang đến góc nhìn toàn diện về tác động của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người.

Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn về các vấn đề sức khỏe và môi trường!