CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. NGUỒN GỐC LOÀI CHÓ Chó nhà là họ hàng của chó sói, đã từng sống hoang dã ở khắp Châu Âu, Châu Á và Bắc Mỹ. Không một ai biết con người đã sống cùng với chó từ khi nào; có lẽ con người đã sống với chó ít nhất cũng 10 nghìn năm. Những người Ai Cập cổ đã biết chăn nuôi chó từ rất lâu đời.
Trên nghìn năm, chó đã là người giúp đỡ, làm thú cảnh của con người. Chó chăn cừu giúp người chăn cừu, chó đã giúp con người đi săn, giúp con người canh dữ nhà và các trang trại. Dựa trên những thành tựu nghiên cứu về cổ sinh vật học và di truyền học, các nhà khoa học đã xác định được tổ tiên của loài chó nhà hiện nay là một số loài chó sói sống hoang dã ở các vùng sinh thái khác nhau trên thế giới. Cách đây khoảng 15.000 năm con người đã thuần hoá với mục đích phục vụ cho việc săn bắt, sau đó là giữ nhà và là bạn với con người.
Trung tâm thuần hoá chó cổ nhất có lẽ là vùng Đông Nam Á, sau đó được du nhập vào Châu Úc, lan ra khắp Phương Đông và đến Châu Mỹ. Ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ học, chó được nuôi từ trung kỳ đồ đá mới, khoảng 3000 - 4000 năm trước công nguyên (cách đây 5 - 6 nghìn năm). Tập hợp những giống chó nhà được nuôi hiên nay trên thế giới có khoảng 400 giống, được gọi chung là loài chó nhà (Canis familiaris), thuộc họ chó (Canidae), bộ ăn thịt (Carnivora), lớp động vật có vú (Mammilia). Ngày nay, chó làm được rất nhiều các công việc: Chó dẫn đường cho các người mù, chó huấn luyện để cảnh báo cho người điếc những âm thanh thông thường trong gia đình (như tiếng điện thoại, tiếng chuông cửa), những con chó khác được huấn luyện để mang đồ đạc cho những người khuyết tật.
Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của loài chó là lòng trung thành. MỘT SỐ GIỐNG CHÓ CHÍNH ĐƯỢC NUÔI Ở VIỆT NAM 1. Một số giống chó địa phương Theo Nguyễn Văn Thanh và cs. (2016), nước ta có một số giống chó địa phương sau: - Giống chó Vàng: Đây là giống chó nuôi phổ biến nhất, có tầm vóc trung bình, cao 50 - 55cm, nặng 12 - 15kg, là giống chó săn được nuôi để giữ nhà, săn thú và làm thực phẩm.
Chó phối giống được ở độ tuổi 15 - 18 tháng. Chó cái sinh sản được ở độ tuổi 12 - 14 tháng. Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 7 sal, trung bình 5 sal. - Giống chó H’Mông: sống ở miền núi cao, được dùng giữ nhà và săn thú, có tầm vóc lớn hơn chó Vàng: chiều cao 55 - 60cm, nặng 18 - 20kg.
Chó đực phối giống được ở 16 - 18 tháng tuổi, chó cái sinh sản ở độ tuổi 12 - 15 tháng. Chó cái mỗi lứa đẻ 5 - 8 con, trung bình 6 con. - Giống chó Phú Quốc: Màu nâu xám, bụng thon, trên lưng long mọc có hình xoắn, hay lật theo kiểu rẽ “ngôi”, lông vàng xám có các đường kẻ chạy dọc theo thân, tầm vóc tương tự chó Lào. Chó cao 60 - 65cm; nặng 20 - 25kg.
Chó đực phối giống được ở độ tuổi 15 - 18 tháng. Chó cái sinh sản ở độ tuổi 12 - 15 tháng. Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 6 con, trung bình 5 con. Chó Phú Quốc được xếp vào loại chó quý ở Việt Nam, nó rất trung thành và nó có thể bắt cá nuôi chủ khi chủ ốm.
Một số giống chó nhập ngoại - Giống chó Berger Đức: Berger Đức, có nguồn gốc từ Đức, được nhập vào nước ta từ những năm 1960 do Bộ nội vụ. Chó có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó nước ta, dài 110 - 112 cm, cao từ 56 - 65 cm đối với chó đực và từ 62 - 66 cm đối với chó cái; trọng lượng từ 28 - 37 kg. Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm, đầu, ngực và bốn chân có màu vàng sẫm. Đầu hình nêm, mũi phân thuỳ, tai dỏng hướng về phía trước, mắt đen, răng to, khớp răng cắn khít.
Cổ chắc, xiên đến vạch lưng; lưng chắc rộng có độ dốc về 5 phía sau; bụng thon thẳng, đuôi dài hình lưỡi kiếm. Các chi có cơ gân chắc khoẻ, chân trước thẳng đứng, chân sau đứng hơi choãi về phía sau. - Giống chó Dobermann: Chó có nguồn gốc từ Đức được phát hiện ra vào năm 1866 và được nhập vào nước ta nuôi với mục đích để canh gác, tìm kiếm và làm cảnh. Chó có tầm vóc trung bình cao, cao 65 - 69 cm, dài 110 - 112 cm; nặng 30 - 33 kg.
Chó có bộ lông ngắn đen sẫm gần như toàn thân; mõm, ngực, 4 chân có màu vàng sẫm. Có đầu hình nêm, hơi thô, mũi rộng mắt đen, hàm răng chắc, cắn khít; cổ to khoẻ; ngực nở, bụng thon; cơ chi chắc khoẻ, đuôi ngắn. Chó thuộc loại hình thần kinh ổn định, thông minh, can đảm, lanh lợi; khéo léo và đặc biệt dễ huấn luyện. - Giống chó Rottweiler: có nguồn gốc từ thành phố nhỏ Rottweiler của nước Đức.
Được phát hiện năm 1800 và được sử dụng chủ yếu vào việc chăn giữ gia súc và bảo vệ tài sản; ngày nay nó được sử dụng trong trinh sát trong lực lượng cảnh sát và bộ đội biên phòng. Chó có tầm vóc lớn, cao: 68cm; nặng 42kg; lông ngắn đen toàn thân, mõm bụng và bốn chân vàng sẫm; bốn chân vững chắc, đầu to không dài, hai mắt sáng, khoảng cách 2 mắt không xa. - Giống chó Fox: Chó Fox có nguồn gốc từ Pháp, du nhập vào nước ta đã lâu, Fox là giống chó nhỏ con tầm khoảng từ 1,5 - 2,5 kg ngoại hình nó nhìn như một con hươu thu nhỏ. Đầu nhỏ, tai to mà vểnh, sống mũi hơi gãy, mõm nhỏ và dài.
Ngực chó Fox nở nang, bụng thon, bốn chân mảnh và cao nên chó chạy rất nhanh. Bộ lông chó Fox ngắn, có con lông sát như lông bò. Chó Fox có nhiều màu gồm màu vàng bò, đen, bốn chân vàng, đôi chỗ có vá nâu hay vàng, có khi màu đen đặc biệt, phần mặt bao giờ cũng có vá hai bên, giữa sống mũi kéo dài lên đỉnh đầu là lằn đen hoặc trắng. Chó Fox có khả năng săn bắt những loài thú nhỏ.
Vì vậy, nếu được huấn luyện tốt thì nó có thể trở thành giống chó săn thực thụ. Chó Fox giữ nhà rất giỏi, tiếng sủa lớn và dai, dám lăn xả vào kẻ thù mà cắn xé. Đối với chủ nuôi, Fox rất trung tín, mến chủ, gặp là mừng rỡ quấn quýt bên chân rất dễ thương. 6 - Giống chó Poodle: chó Toy Poodle có nguồn gốc từ Pháp.
Lông xoăn, màu lông của mỗi chú Poodle đều phù hợp với màu da của chúng, có thể kể đến các màu như: Xanh bạc, đen, da bò, xám, kem, đỏ, trắng, nâu, cafe sữa… Nhưng những chú Poodle lông xù trắng và da màu bạc luôn là những “em” thú cưng được ưa thích nhất. Kích thước trung bình khá nhỏ, kích thước thông thường có thể đạt là 10 inches (tương đương với 25,4cm) chiều cao. Những chú Poodle cỡ trung (standard) có kích thước khoảng từ 35 - 45 cm, Poodle mini có kích thước từ 28 - 35 cm. Poodle nổi tiếng về lòng trung thành, thông minh, học hỏi và đặc biệt lanh lợi.
Vì thế, Poodle được hầu hết người nuôi đánh giá là giống chó dễ huấn luyện, dễ nuôi và rất dễ mến. - Giống Chó Alaska hay còn gọi là chó Alaska malamute có tổ tiên là chó sói tuyết hoang được thuần hóa bởi bộ tộc Malamute. Chó Alaska được nuôi phổ biến và trở thành thú cưng tại nhiều nước trên thế giới. Màu lông rất đa dạng như: đen trắng, nâu đỏ, xám trắng, vàng đồng… Một số cá thể có màu hiếm hơn như màu hồng phấn và tuyết trắng.
Phần mõm và chân của Alaska thuần chủng chỉ có một màu trắng. Lông của Alaska có 02 lớp dày để thích nghi với thời tuyết băng giá ở vùng Bắc Cực. Lớp lông ngắn ở bên trong rất dày và mượt, phân bố đều khắp cơ thể, còn lớp lông bên ngoài dài hơn, bông xù và không thấm nước. Alaskan có chiều cao trung bình khoảng 65 - 70 cm, cân nặng từ 45 - 50 kg.
Riêng chiều cao của những chú Alaska khổng lồ có thể đạt 1m và trọng lượng lên tới 80kg. Alaska có tỉ lệ thân hình cân đối, khung xương lớn và vững chắc, các khớp xương chân cũng rất chắc chắn. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA CHÓ 1. Thân nhiệt (0C) Theo Cù Xuân Dần (1977) ở trạng thái sinh lý bình thường thân nhiệt của chó là 38 - 390C.
Trong tình trạng bệnh lý thân nhiệt có sự thay đổi tùy vào tính chất và mức độ bệnh. 7 Tô Du và Xuân Giao (2006) cho biết, nhiệt độ của cơ thể chó bình thường còn thay đổi bởi các yếu tố như tuổi (con non có thân nhiệt cao hơn con trưởng thành), giới tính (con cái có thân nhiệt cao hơn con đực), khi vận động nhiều hay có thai thân nhiệt của chó cũng cao hơn bình thường, … Thông qua việc kiểm tra thân nhiệt của chó ta có thể xác định được con vật có bị sốt hay không. Nếu thân nhiệt tăng 1 - 20C là sốt nhẹ. Nếu thân nhiệt tăng 2 - 30C là hiện tượng sốt cao.
Qua đó có thể sơ chẩn được nguyên nhân, tính chất và mức độ tiên lượng, đánh giá được hiệu quả điều trị tốt hay xấu (Vương Đức Chất và cs. Tần số hô hấp Theo Vũ Triệu An (1978) tần số hô hấp là số lần thở trong 1 phút, thường đếm số lần hô hấp trong 2 - 3 phút sau đó lấy bình quân. Chú ý hõm hông, thành ngực, thành bụng thoi thóp, xương cánh mũi hoạt động khi con vật thở để tính tần số hô hấp. Tần số hô hấp phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất, tuổi, tầm vóc, trạng thái dinh dưỡng, trạng thái làm việc, trạng thái sinh lý, thời tiết, khí hậu và tình trạng bệnh lý.
Đỗ Hiệp (1994) cho biết, ở trạng thái sinh lý bình thường, tần số hô hấp trung bình của chó là 10 - 30 lần/phút. Chó con có tần số hô hấp từ 18 - 20 lần/phút. Chó trưởng thành, giống chó to có tần số hô hấp từ 10 - 20 lần/phút, chó nhỏ có tần số hô hấp 20 - 30 lần/phút. Tần số tim Tần số tim mạch là số lần co bóp của tim trong 1 phút (lần/phút).
Khi tim đập thì mỏm tim hoặc thân tim chạm vào thành ngực, vì vậy mà ta có thể dùng ống nghe áp vào thành ngực vùng tim để nghe được tiếng tim.