Đặt vấn đề Bệnh sán dây là một bệnh rất phổ biến ở đàn chó nước ta. Ấu trùng một số loài sán dây ký sinh và gây bệnh ở người và một số loài gia súc khác - ký chủ trung gian của sán dây, gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi cũng như sức khoẻ con người. Một trong những loài ấu trùng đó là Cysticercus tenuicollis. Đây là ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena, gây bệnh ở lợn, dê, cừu, trâu, bò, thỏ, ngựa.
đôi khi cả ở người. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [7] cho biết ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng của vật chủ và gây bệnh. Ấu trùng là những bọc nước có kích thước to, nhỏ không đều nhau bám ở bề mặt màng treo ruột, lách, gan, thận, phổi. Vì thế, trong quá trình giết mổ, có thể khó phát hiện, dễ nhầm lẫn ấu trùng với các bọc nước bình thường làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh cho người và gia súc.
Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) [9], bệnh phân bố ở khắp các vùng, đặc biệt là những nơi nuôi nhiều chó và giết mổ gia súc bừa bãi, không kiểm soát vệ sinh chặt chẽ. Tỷ lệ nhiễm bệnh tăng dần theo tuổi do thời gian và cơ hội tiếp xúc với ấu trùng tăng dần. Khi bị nhiễm ấu trùng, vật chủ có thể có một số triệu chứng như gầy yếu dần, đau bụng, bụng căng to, ấn vào vùng bụng có cảm giác bị đau, nếu nhiễm nặng có thể hoàng đản da và niêm mạc. Vật chủ có thể chết do thiếu máu, nội quan bị huỷ hoại hoặc do các bệnh kế phát.
Hiện nay, bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis hay còn gọi là bệnh ấu sán cổ nhỏ chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu chỉ điều trị triệu chứng. Ngoài ra, việc chẩn đoán bệnh đối với vật chủ sống rất khó khăn do đặc điểm dịch tễ và triệu chứng bệnh không điển hình, giống một số bệnh ký sinh trùng khác. Đặc biệt, không thể xác định tỷ lệ nhiễm ấu trùng bằng cách xét nghiệm phân do ấu trùng ký sinh tại bề mặt các khí quan trong cơ thể. Đối với vật chủ sống, có thể chọc dò dịch xoang ngực và bụng để xác định nhưng rất khó thực hiện, có thể nguy hiểm cho vật chủ.
2 Những năm gần đây, tình hình chăn nuôi chó tại tỉnh Thái Nguyên phát triển mạnh, cả chó nuôi lấy thịt và chó cảnh. Tuy nhiên, chó nuôi thường thả rông, nếu bị mắc sán dây thì rất dễ phát tán mầm bệnh, lây lan cho người và các vật nuôi khác. Đặc biệt, việc giết mổ chó cũng như các loài gia súc khác tại tỉnh Thái Nguyên vẫn chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng giết mổ bừa bãi còn phổ biến khiến nguy cơ lây nhiễm bệnh ấu sán cổ nhỏ là khá cao. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi mong muốn tiến hành đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê nuôi tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống".
Mục tiêu nghiên cứu Xác định tình hình nhiễm ấu trùng Cysicercus tenuicollis ở dê nuôi tại huyện Phổ Yên, mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê và tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó. Mục đích nghiên cứu Xác định được biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên từ đó xây dựng được quy trình phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê nuôi tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên về quy trình phòng chống bệnh hiệu quả, có một số đóng góp mới cho khoa học.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra đối với dê. Những đóng góp mới của đề tài - Là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra cho dê ở tỉnh Thái Nguyên. - Xây dựng quy trình phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra cho dê có hiệu quả, khuyến cáo và áp dụng rộng rãi tại các nông hộ chăn nuôi dê. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis. Theo Johannes Kaufmann (1996) [26], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở bề mặt gan, mỡ màng chài ở khoang bụng của cừu và gia súc. Gia súc nhiễm ấu sán thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, trừ khi nhiễm một số lượng lớn ấu trùng ở nhu mô gan, tình trạng thiếu máu và chết có thể xảy ra.
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 – 80 x 8 – 100 mm, chứa dịch bên trong. Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], cho biết, ấu trùng Cysticercus tenuicollis là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu, quả cam hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước. Có một đầu sán bám vào màng trong của bọc, đầu sán có 4 giác bám, có 29 – 44 móc.
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2], cho biết: căn bệnh là ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của lợn, dê, cừu, bò, hươu, đôi khi thấy ở ngựa, người. Kích thước ấu trùng khác nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có hình bọc, bên ngoài là mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành, lộn ra phía ngoài. Ở những vùng nuôi nhiều chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn càng nhiều. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng.
Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của lợn và các động vật khác phụ thuộc vào số chó nhiễm sán trưởng thành. Lợn nuôi gần với chó dễ nhiễm ấu trùng hơn, còn trâu, bò thả trên bãi chăn nhiễm ít hơn. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 2. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], cho biết: so với các nhóm giun sán khác thì sán dây ít được nghiên cứu hơn, nên những hiểu biết về thành phần loài sán dây còn chưa được đầy đủ.
5 Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước. lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam). Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người. Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã.
Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó. Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và thú hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài sán Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm các loài trong đó có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis. Năm 1963, Trịnh Văn Thịnh đã có công trình tổng kết được hầu hết những nghiên cứu trước đó, trong đó tác giả đã đề cập đến ấu trùng Coenurus cerabralis của loài sán dây Multiceps multiceps ở cừu. Năm 1967, hai nhà ký sinh trùng học người Ba Lan là Drozdz và Malczewski đã công bố các loài sán dây ở động vật nhai lại 8 tỉnh miền Bắc, trong đó có ấu trùng Cysticercus tenuicollis của loài Taenia hydatigena.
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4], đã mổ khám 174 cá thể thuộc 21 loài của bộ ăn thịt, kết quả cho thấy, trong các loài mèo rừng, cầy giông, cầy hương, cầy lỏn và chó nhà được mổ khám phát hiện thấy các loài Taenia hydatigena, Taenia pisifomis, Multiceps multiceps, Spirometra erinacei-europaei, Dipylidium caninum. Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [4]). và cs (1929) [23], đã lập nên một phân giống là Spirometra trong giống Diphyllobothrium. Đến năm 1937 Muller đề xuất giống Spirometra và thống nhất đổi tên loài Diphyllobothrium mansonoides thành loài Spirometra mansonoides.
Rudolphi (1918) đã phát hiện ấu trùng của sán dây loài Spirometra ericnaice trên loài nhím ở châu Âu. và cs (1929) [23], cũng đã 6 phát hiện ấu trùng loài này trên nhím ở Trung Quốc và dạng sán trưởng thành ở chó. Khi nghiên cứu về hệ enzym của loài Spirometra erinacei ở Nhật Bản và ở Australia, Fukumoto S. và cs (1992) [24] nhận xét rằng hai loài sán này là giống nhau.
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [18], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam. Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau: Ngành sán dẹp (Plathelminthes) Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863 Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910 Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937 Loài Spirometra mansonoides (Mueller, 1935) Mueller, 1937 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940 Họ Dipylidiidae Mola, 1929 Giống Dipylidium Leuckart, 1863 Loài Dipylidium caninum Leuckart,1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch1786 Giống Multiceps Goeze, 1782 7 Loài Multiceps multiceps Leske, 1780.