Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tuy nhiên sự gia tăng quy mô đàn gia súc cũng đi kèm với nguy cơ bùng phát và lây lan các bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng. Trong đó, sán dây Taenia hydatigena ký sinh ở giai đoạn trưởng thành trong ruột non của chó và các loài thú ăn thịt. Giai đoạn ấu trùng của loài này, mang tên khoa học là Cysticercus tenuicollis (thường gọi là ấu sán cổ nhỏ hay bọc nước), ký sinh trên bề mặt các cơ quan nội tạng trong xoang bụng như màng treo ruột, màng mỡ chài, gan, lách của động vật nhai lại (dê, cừu, trâu, bò), lợn và có thể lây sang người.

Tại tỉnh Thái Nguyên, điều kiện tự nhiên miền núi và trung du rất thuận lợi cho việc phát triển đàn dê, đặc biệt là giống dê cỏ địa phương thuộc danh mục vật nuôi cần bảo tồn nguồn gen. Mặc dù vậy, phương thức chăn nuôi tại địa phương phần lớn vẫn mang tính quảng canh, chăn thả tự do trên đồi bãi, chuồng trại chưa đảm bảo vệ sinh và việc phòng trừ dịch bệnh chưa được quan tâm đầy đủ. Đồng thời, tập quán nuôi chó thả rông không được quản lý hay tẩy giun sán định kỳ làm tăng phát tán đốt sán và trứng sán ra bãi chăn thả, nguồn nước và cỏ xanh. Ấu trùng Cysticercus tenuicollis khi ký sinh ở dê thường tạo thành các túi dịch bám vào màng treo ruột và bề mặt gan, dễ bị nhầm lẫn với các bọc nước sinh lý khi giết mổ, dẫn đến việc vứt bỏ nội tạng tùy tiện cho chó ăn, khép kín vòng đời ký sinh. Bệnh ở thể mãn tính thường không có biểu hiện lâm sàng điển hình, việc chẩn đoán trên con vật sống gặp nhiều trở ngại và hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu ngoài các biện pháp can thiệp triệu chứng.

Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục đích và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Mục đích của đề tài: Xác định cơ sở khoa học về đặc điểm dịch tễ và bệnh học của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở đàn dê tại Thái Nguyên, làm căn cứ đề xuất biện pháp phòng chống phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại địa phương.
  2. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát tỷ lệ, cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên dê theo địa phương, lứa tuổi, tính biệt, thời gian; khảo sát thành phần sán dây ký sinh ở chó và mối tương quan dịch tễ giữa chó và dê; ghi nhận bệnh học và đề xuất giải pháp kiểm soát bệnh.
  3. Đối tượng nghiên cứu: Đàn dê và chó nuôi tại ba huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên; ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis thu thập từ nội tạng dê và sán dây trưởng thành thu thập từ đường tiêu hóa của chó.
  4. Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Địa bàn ba huyện Phú Lương, Đại Từ và Định Hóa thuộc tỉnh Thái Nguyên. Công tác xét nghiệm, định loại mẫu thực hiện tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y (Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên) và Phòng Ký sinh trùng (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật).
    • Thời gian: Nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu tiến hành từ ngày 12/06/2014 đến ngày 25/11/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và phân loại sinh học

Khóa luận dựa trên hệ thống phân loại giun sán của Schulz và Gvozdev (1970) được áp dụng tại Việt Nam (theo Phan Thế Việt và cs, 1977; Nguyễn Thị Kỳ, 2003). Vị trí phân loại của các loài sán dây đường tiêu hóa ở chó thuộc:

  • Ngành giun dẹp: Plathelminthes
  • Lớp sán dây: Cestoda (Rudolphi, 1808)
  • Phân lớp: Eucestoda (Southwell, 1930)
  • Bộ Cyclophyllidea (Beneden in Braun, 1900) với các họ: Taeniidae (các loài Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Echinococcus granulosus, Multiceps multiceps), Dipylidiidae (loài Dipylidium caninum), Mesocestoididae (Mesocestoides lineatus).
  • Bộ Pseudophyllidea (Carus, 1863) với họ Diphyllobothriidae (loài Spirometra erinacei-europaei).

Vòng đời sinh học của Taenia hydatigena là chu trình gián tiếp bắt buộc qua ký chủ trung gian. Chó bài xuất đốt sán già chứa trứng ra ngoại cảnh; dê nuốt phải trứng lẫn trong cỏ hoặc nước uống; thai 6 móc nở ra ở ruột, xuyên qua mao mạch mạc treo vào tĩnh mạch cửa đến gan, di hành tạo rãnh nhu mô rồi lọt vào xoang bụng bám vào màng treo ruột, màng mỡ chài, phát triển thành bọc ấu trùng Cysticercus tenuicollis có một đầu sán lõm vào trong. Khi chó ăn phải nội tạng chứa ấu trùng này, đầu sán bám vào niêm mạc ruột non và phát triển thành sán dây trưởng thành sau khoảng hai tháng.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm

  • Phương pháp thu thập mẫu dê: Áp dụng kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo địa phương (Nguyễn Như Thanh, 2001). Tiến hành mổ khám phi toàn diện nội tạng trên 285 cá thể dê tại các điểm giết mổ và nông hộ ở 3 huyện: Phú Lương (110 con), Đại Từ (83 con), Định Hóa (92 con). Bộc lộ xoang bụng và xoang ngực, quan sát và thu thập toàn bộ ấu trùng ký sinh ở bề mặt gan, màng treo ruột, lách, mỡ chài; đếm số lượng ấu trùng trên mỗi cá thể dê để xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm; bảo quản mẫu trong cồn 70°.
  • Phân nhóm dịch tễ: Dê được phân tầng theo 4 nhóm tuổi (≤ 6 tháng tuổi; > 6 – 12 tháng tuổi; > 12 – 24 tháng tuổi; > 24 tháng tuổi), phân theo tính biệt (đực, cái) và phân theo tháng mổ khám (từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2014).
  • Phương pháp mổ khám và thu thập sán dây ở chó: Mổ khám phi toàn diện đường tiêu hóa của chó theo phương pháp Skrjabin (1928) tại các địa phương có đàn dê được theo dõi; thu thập toàn bộ sán dây ở ruột, rửa bằng nước cất, làm chết tự nhiên trong nước sạch và cố định trong cồn 70°.
  • Phương pháp định loại hình thái sán dây:
    • Làm tiêu bản tạm thời (tiêu bản trong) bằng dung dịch glycerin + axit lactic + nước cất (tỷ lệ 1:1:1) để soi nhanh cấu tạo đầu, giác bám, móc vòi.
    • Làm tiêu bản cố định: Ép mẫu sán giữa hai lam kính trong cồn 70°, nhuộm bằng phẩm màu carmin từ 10 – 15 phút, khử nước qua các cấp độ cồn tăng dần (70°, 80°, 96°, 100°), làm trong bằng dung dịch xylen và gắn mẫu bằng keo baume-canada. Giám định tên loài sán dưới kính lúp và kính hiển vi quang học dựa trên khóa định loại của Phan Thế Việt và cs (1977), Nguyễn Thị Kỳ (2003) tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật.
  • Phương pháp nghiên cứu bệnh học: Cân khối lượng bọc ấu trùng bằng cân điện tử, định vị các khí quan có ấu trùng ký sinh, theo dõi triệu chứng lâm sàng ở gia súc trước khi mổ và kiểm tra biến đổi bệnh tích đại thể (viêm màng bụng, tụ huyết, rãnh di hành ở gan).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán các tham số thống kê sinh học (tỷ lệ %, cường độ nhiễm dao động, giá trị trung bình) theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện (2008), phân tích tương quan tuyến tính và vẽ đồ thị dịch tễ trên phần mềm chuyên dụng Minitab 14.0.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu xác định tính cấp thiết của việc kiểm soát ký sinh trùng trên đàn dê tại tỉnh Thái Nguyên. Tác giả chỉ rõ mối liên hệ dịch tễ mật thiết giữa việc nuôi chó thả rông không tẩy giun sán định kỳ với sự lây lan mầm bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis cho dê. Đồng thời, phần này xác lập mục tiêu xác định đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh học, xác định tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó và ấu trùng ở dê, từ đó thiết lập cơ sở khoa học để đề xuất quy trình phòng chống bệnh mang tính khả thi cho nông hộ.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế về căn bệnh và loài sán dây Taenia hydatigena:

  • Tổng hợp lịch sử nghiên cứu phân loại sán dây ký sinh trên động vật ăn thịt tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX (Casaux năm 1914, Houdemer năm 1925, Trịnh Văn Thịnh năm 1963, Phan Thế Việt năm 1977, Nguyễn Thị Kỳ năm 2003). Mô tả chi tiết hình thái của sán trưởng thành (dài tới 5 m, có 550 – 700 đốt, vòi có 26 – 44 móc xếp hai hàng) và ấu trùng Cysticercus tenuicollis (bọc nước chứa dịch trong, kích thước từ hạt đậu đến quả bưởi, màng trong có một đầu sán).
  • Tổng quan các công trình dịch tễ trong nước: Số liệu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) mổ khám 589 dê tại Thái Nguyên và Bắc Kạn cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng là 23,8% với cường độ 1 – 18 ấu sán/con; số liệu năm 2012 tại Phú Thọ ghi nhận tỷ lệ nhiễm ở trâu, bò, lợn là 23,10% với hệ số tương quan rất chặt chẽ giữa tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó và ấu sán ở gia súc (R = 0,881 – 0,997).
  • Tổng quan dịch tễ học và bệnh lý học quốc tế: Các nghiên cứu của Kaufmann (1996), Junquera (2011, 2013), Dalimi và cs (2006 tại Iran), Yotko và cs (2009 tại Bulgaria). Tác giả tổng hợp cơ chế gây bệnh: ấu trùng di hành gây viêm gan chấn thương, xuất huyết, hoại tử nhu mô, tích tụ dịch thẩm xuất có lẫn máu và fibrin trong xoang bụng, có thể dẫn đến tử vong ở thú non.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang và bệnh học thực nghiệm. Tác giả cụ thể hóa tiêu chí phân nhóm 285 cá thể dê mổ khám tại 3 huyện Phú Lương, Đại Từ, Định Hóa; quy chuẩn hóa thời gian theo dõi thực địa trong 5 tháng; quy định các chỉ tiêu lâm sàng, giải phẫu đại thể và các bước thao tác phòng thí nghiệm để làm tiêu bản định loại sán dây chó bằng phẩm nhuộm carmin.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Phần kết quả trình bày toàn bộ số liệu thu thập được qua các nội dung chính:

  • Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê: Trình bày tỷ lệ và cường độ nhiễm phân theo địa bàn hành chính, lứa tuổi sinh trưởng, tính biệt và tháng điều tra. Tác giả thảo luận về các yếu tố ngoại cảnh, mật độ nuôi chó và tập quán chăn thả ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ lệ cảm nhiễm.
  • Thành phần loài sán dây ở chó: Xác định 5 loài sán dây ký sinh trên chó tại Thái Nguyên, xác định hệ số bắt gặp của từng loài và phân tích mối liên hệ tương quan giữa tỷ lệ nhiễm Taenia hydatigena ở chó với mức độ nhiễm bọc ấu trùng ở đàn dê địa phương.
  • Nghiên cứu bệnh học: Thống kê các triệu chứng lâm sàng quan sát được ở dê nhiễm bệnh; định lượng tỷ lệ phân bố của ấu trùng tại các khí quan trong xoang bụng (gan, màng treo ruột, màng mỡ chài, lách); ghi nhận khối lượng thực tế của bọc ấu sán và mô tả các biến đổi bệnh tích đại thể ở gan và phúc mạc.
  • Đề xuất biện pháp phòng chống: Đưa ra hệ thống giải pháp kỹ thuật thú y nhằm cắt đứt chu kỳ sinh học của ký sinh trùng tại địa phương.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị

Đưa ra những kết luận khái quát về hiện trạng nhiễm sán dây và ấu trùng sán dây tại vùng nghiên cứu; thẳng thắn nêu rõ các giới hạn về thời gian khảo sát thực địa; đồng thời đưa ra các đề nghị ứng dụng thực tế đối với cơ quan quản lý thú y và định hướng nghiên cứu sâu hơn.

Kết quả và đóng góp

Số liệu dịch tễ học chính trên đàn dê

Khảo sát mổ khám 285 cá thể dê tại tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis chung là 15,09% với cường độ nhiễm dao động từ 1 đến 21 ấu trùng/con.

Chỉ tiêu phân loại dịch tễ Phân nhóm theo dõi Số dê mổ khám (con) Số dê nhiễm bệnh (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (ấu trùng/con)
Địa phương Huyện Phú Lương 110 19 17,27 1 – 20
Huyện Định Hóa 92 14 15,22 1 – 21
Huyện Đại Từ 83 10 12,05 1 – 13
Lứa tuổi ≤ 6 tháng tuổi 41 4 9,76 1 – 9
> 6 – 12 tháng tuổi 70 11 15,71 1 – 13
> 12 – 24 tháng tuổi 83 13 15,66 1 – 16
> 24 tháng tuổi 91 15 16,48 1 – 21
Tính biệt Dê cái 114 19 16,67 1 – 20
Dê đực 171 24 14,04 1 – 21
Tháng điều tra Tháng 7 89 9 10,11 1 – 9
Tháng 8 69 11 15,94 1 – 20
Tháng 9 67 12 17,91 1 – 17
Tháng 10 60 11 18,33 1 – 21
Tính chung toàn khảo sát — 285 43 15,09 1 – 21

Số liệu cho thấy tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi của dê (từ 9,76% ở dê dưới 6 tháng tuổi lên 16,48% ở dê trên 24 tháng tuổi) do thời gian tiếp xúc với bãi chăn thả mang mầm bệnh tích lũy theo thời gian. Dê cái có tỷ lệ nhiễm (16,67%) cao hơn dê đực (14,04%), được giải thích do biến đổi sinh lý trong các giai đoạn mang thai và tiết sữa làm giảm sức đề kháng. Tỷ lệ nhiễm theo tháng tăng dần từ tháng 7 (10,11%) đến tháng 10 (18,33%) do chu kỳ phát triển từ khi dê nuốt phải trứng sán vào mùa hè (tháng 6, 7) đến khi hình thành nang ấu trùng hoàn chỉnh trong xoang bụng mất khoảng 2 đến 2,5 tháng.

Thành phần sán dây ký sinh ở chó

Khảo sát mổ khám trên đàn chó tại địa bàn nghiên cứu đã định loại được 5 loài sán dây thuộc 2 bộ:

STT Tên khoa học của loài sán dây Phân bố theo địa bàn Hệ số thường gặp (%)
1 Dipylidium caninum (Leuckart, 1758) Phú Lương (+), Đại Từ (+), Định Hóa (+) 100,00
2 Taenia hydatigena (Pallas, 1766) Phú Lương (+), Đại Từ (+), Định Hóa (+) 100,00
3 Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Phú Lương (+), Đại Từ (+), Định Hóa (+) 100,00
4 Taenia pisiformis (Bloch, 1780) Phú Lương (+), Đại Từ (+), Định Hóa (-) 66,67
5 Multiceps multiceps (Leske, 1780) Phú Lương (-), Đại Từ (-), Định Hóa (+) 33,33

Trong đó, Taenia hydatigena (nguồn gốc sinh ra ấu trùng Cysticercus tenuicollis) có mặt ở cả 3 huyện với hệ số thường gặp tuyệt đối (100%).

Giải pháp kỹ thuật tác giả đề xuất

  1. Quản lý ký chủ cuối cùng (chó): Không nuôi chó thả rông tại các khu vực chăn thả dê; định kỳ tẩy giun sán cho đàn chó nuôi bằng các loại thuốc tẩy sán dây chuyên dụng để triệt tiêu nguồn trứng sán phát tán ra môi trường.
  2. Kiểm soát quy trình giết mổ: Nghiêm cấm việc cho chó ăn sống các phủ tạng (gan, phổi, lách, màng treo ruột) có chứa bọc nước. Khi giết mổ dê hoặc các gia súc khác, nếu phát hiện ấu trùng Cysticercus tenuicollis phải thu gom tập trung và tiêu hủy triệt để (chôn sâu hoặc đốt) để cắt đứt chu trình sinh học.
  3. Vệ sinh chăn nuôi và đồng cỏ: Giữ sạch nguồn thức ăn, nước uống cho dê; thu gom phân chó tại các khu vực nuôi nhốt; hạn chế chăn thả dê tại những bãi chăn bị ô nhiễm nặng bởi phân chó.

Đóng góp mới của đề tài

Đề tài cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ học cập nhật (năm 2014) về tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên đàn dê tại tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu đồng thời định danh chính xác 5 loài sán dây ký sinh trên đàn chó nuôi tại khu vực, chứng minh sự lưu hành thường trực của Taenia hydatigena (100% địa bàn bắt gặp), làm sáng tỏ mối liên hệ dịch tễ học thực địa giữa tập quán nuôi chó thả rông và tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán dây ở dê cỏ địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện trong giới hạn thời gian 5 tháng (từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2014) nên chưa phản ánh được sự biến động dịch tễ trọn vẹn qua cả 4 mùa trong năm (đặc biệt là mùa đông - xuân). Địa bàn nghiên cứu mới tập trung tại 3 huyện (Phú Lương, Đại Từ, Định Hóa), chưa khảo sát trên phạm vi toàn tỉnh Thái Nguyên. Việc chẩn đoán mới dừng lại ở phương pháp mổ khám sau giết mổ, chưa thực nghiệm các kỹ thuật chẩn đoán miễn dịch hoặc huyết thanh học trên dê còn sống.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành điều tra dịch tễ học định kỳ quanh năm trên quy mô đàn dê tại toàn bộ các huyện miền núi phía Bắc; nghiên cứu thử nghiệm các chế phẩm thuốc tẩy sán dây có hiệu lực cao trên đàn chó địa phương; đồng thời nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử hoặc test ELISA để phát hiện sớm ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên gia súc sống.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành trực tiếp cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y và Ký sinh trùng học động vật.
    • Cán bộ kỹ thuật tại các Trạm Thú y cấp huyện, Chi cục Thú y các tỉnh miền núi có thể sử dụng số liệu làm căn cứ xây dựng kế hoạch kiểm soát dịch bệnh ký sinh trùng lây giữa vật nuôi và gia súc nhai lại.
    • Người chăn nuôi dê nắm bắt được phương thức lây truyền bệnh để chủ động thực hiện cách ly chó và xử lý an toàn nội tạng gia súc khi giết mổ.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
    • Quy trình kỹ thuật cố định và nhuộm tiêu bản sán dây bằng dung dịch carmin, gắn keo baume-canada phục vụ công tác giám định hình thái dưới kính hiển vi.
    • Phương pháp luận mổ khám phi toàn diện cơ quan nội tạng dê và đường tiêu hóa chó để thu thập mẫu ký sinh trùng.
    • Hệ thống bảng số liệu dịch tễ phân tầng chi tiết theo lứa tuổi, tính biệt, thời gian và địa bàn hành chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê tại Thái Nguyên phân bố như thế nào giữa các địa phương khảo sát?

Qua mổ khám 285 con dê tại 3 huyện, tỷ lệ nhiễm chung là 15,09% với cường độ từ 1 – 21 ấu trùng/con. Trong đó, huyện Phú Lương có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 17,27% (19/110 con; cường độ 1 – 20 ấu trùng/con); tiếp theo là huyện Định Hóa đạt 15,22% (14/92 con; cường độ 1 – 21 ấu trùng/con); thấp nhất là huyện Đại Từ với 12,05% (10/83 con; cường độ 1 – 13 ấu trùng/con). Sự chênh lệch này gắn liền với mật độ nuôi chó thả rông tại Phú Lương cao hơn hai huyện còn lại.

2. Vì sao tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán dây ở dê lại ghi nhận mức cao nhất vào tháng 9 và tháng 10?

Tỷ lệ nhiễm tăng dần từ tháng 7 (10,11%) lên tháng 8 (15,94%), tháng 9 (17,91%) và đạt cao nhất vào tháng 10 (18,33%). Nguyên nhân là do điều kiện mùa hè nóng ẩm vào tháng 6 và tháng 7 kích thích đốt sán già theo phân chó ra ngoài rã nát, giải phóng trứng sán trên đồng cỏ. Sau khi dê ăn phải trứng sán, ấu trùng 6 móc cần thời gian từ 2 đến 2,5 tháng để hoàn thành quá trình di hành qua gan và phát triển thành nang ấu trùng hoàn chỉnh trong xoang bụng, dẫn đến việc mổ khám vào tháng 9 và 10 phát hiện tỷ lệ nhiễm cao nhất.

3. Nghiên cứu đã xác định được những loài sán dây nào ký sinh trên đàn chó tại địa bàn khảo sát?

Bằng phương pháp mổ khám ruột non của chó và định loại tiêu bản nhuộm carmin tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, tác giả đã phát hiện 5 loài sán dây:

  • Dipylidium caninum (hệ số thường gặp 100%)
  • Taenia hydatigena (hệ số thường gặp 100%)
  • Spirometra erinacei-europaei (hệ số thường gặp 100%)
  • Taenia pisiformis (hệ số thường gặp 66,67%, xuất hiện ở Phú Lương và Đại Từ)
  • Multiceps multiceps (hệ số thường gặp 33,33%, chỉ xuất hiện ở Định Hóa)

4. Lứa tuổi và tính biệt của dê ảnh hưởng như thế nào đến mức độ nhiễm ấu trùng?

Tỷ lệ nhiễm có xu hướng tăng tỷ lệ thuận theo tuổi: dê ≤ 6 tháng tuổi nhiễm 9,76%; dê > 6 – 12 tháng tuổi nhiễm 15,71%; dê > 12 – 24 tháng tuổi nhiễm 15,66%; và dê > 24 tháng tuổi nhiễm cao nhất với 16,48% (cường độ 1 – 21 ấu trùng/con), do gia súc lớn tuổi có thời gian tiếp xúc tích lũy với mầm bệnh trên đồng cỏ dài hơn. Xét theo tính biệt, dê cái có tỷ lệ nhiễm (16,67%) cao hơn dê đực (14,04%) do quá trình sinh sản, mang thai và nuôi con làm suy giảm sức đề kháng tự nhiên của cơ thể.

5. Phương pháp làm tiêu bản cố định để định danh loài sán dây được tác giả tiến hành ra sao?

Quy trình nhuộm và gắn tiêu bản cố định bao gồm: chọn mẫu sán nguyên vẹn (có đủ đầu, cổ, thân, đốt già); rửa sạch trong nước cất 10 – 15 phút; ép phẳng mẫu giữa hai lam kính trong cồn 70°; nhuộm mẫu trong dung dịch phẩm carmin từ 10 – 15 phút; rút nước lần lượt qua các bình cồn nồng độ 70°, 80°, 96°, 100° trong thời gian 15 – 30 phút mỗi nấc; làm trong mẫu bằng xylen; nhỏ keo baume-canada lên lam kính, đặt mẫu sán lên rồi đậy lamen; để khô tiêu bản trong một ngày trước khi soi và đo đạc cấu tạo giải phẫu dưới kính hiển vi quang học.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Lý đã cung cấp các dẫn liệu thực nghiệm về tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên đàn dê tại 3 huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên năm 2014 với tỷ lệ nhiễm chung là 15,09% và cường độ 1 – 21 ấu trùng/con. Nghiên cứu khẳng định sự lưu hành thường trực của sán dây Taenia hydatigena ở chó nuôi thả rông địa phương (hệ số thường gặp 100%) là nguồn phát tán mầm bệnh trực tiếp cho đàn gia súc nhai lại. Các biện pháp phòng bệnh do đề tài xây dựng tập trung vào việc quản lý, tẩy sán định kỳ cho chó và kiểm soát triệt để quy trình giết mổ, mang lại giá trị thực tiễn phục vụ công tác thú y và bảo vệ sức khỏe đàn dê tại địa phương.