MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Ngành Chăn nuôi ở Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, khi chăn nuôi phát triển thì tình hình dịch bệnh của gia súc, gia cầm cũng ngày càng tăng lên. Sán dây Taenia hydatigena ký sinh và gây bệnh ở chó, chó sói, cáo và các thú ăn thịt khác. Ấu trùng Cysticercus tenuicollis của sán dây Taenia hydatigena ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng gây bệnh rất nguy hiểm cho vật nuôi và kể cả người.
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [9] cho biết, ấu trùng Cysticercus tenuicollis có dạng bọc, mang đầu sán dây Taenia hydatigena, có kích thước to, nhỏ không đều nhau, bám ở bề mặt màng treo ruột, lách, gan, thận,. Vì thế, trong quá trình giết mổ, có thể dễ nhầm lẫn với những bọc nước bình thường, từ đó không có biện pháp tiêu diệt ấu trùng, làm tăng nguy cơ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó. Thái Nguyên là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu, bò, dê. Dê cỏ ở Thái Nguyên có nhiều ưu điểm và được đưa vào danh mục vật nuôi cần bảo tồn nguồn gen.
Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi vẫn là chăn thả tự do, chưa quan tâm đến việc phòng trị bệnh. Đồng thời, chó được nuôi rất nhiều trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo hình thức nuôi thả rông, nếu chó bị nhiễm sán dây sẽ phát tán mầm bệnh, làm cho dê và các vật nuôi khác bị bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis. Hiện nay, bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu chỉ điều trị triệu chứng. Ngoài ra, khi bị nhiễm ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis thì vật chủ cũng không có những triệu chứng điển hình nên việc chẩn đoán và điều trị đối với con vật còn sống rất khó khăn.
n 2 Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê, để từ đó có biện pháp phòng chống thích hợp là hết sức cần thiết. Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh ấu trùng sán dây cho dê, mà còn góp phần phòng chống bệnh sán dây ở chó, một số loài vật nuôi khác và cả người. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống" 1. Mục đích của đề tài Có cơ sở khoa học để xác định biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở tỉnh Thái Nguyên, từ đó có biện pháp phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao.
Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và bệnh học bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê nuôi tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và bệnh học bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê nuôi tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng các biện pháp phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra trên dê, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy nghề nuôi dê phát triển.
n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học của đề tài 2.Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis Theo Johannes Kaufmann (1996) [24], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở bề mặt gan, mỡ màng chài ở khoang bụng của cừu và gia súc. Gia súc nhiễm ít ấu sán thường không có biểu hiện triệu chứng rõ ràng, trừ khi nhiễm số lượng lớn ấu trùng ở nhu mô gan, tình trạng thiếu máu và chết có thể xảy ra. Ở nước ta, thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt gan, lách, màng treo ruột, màng mỡ chài… của gia súc (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [7]). Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [12], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 – 80 x 8 – 100 mm, chứa dịch bên trong.
Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [8] cho biết, ấu trùng Cysticercus tenuicollis là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu, quả cam hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước. Có một đầu sán bám vào màng trong của bọc, đầu sán có 4 giác bám, có 29 – 44 móc. Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2] cho biết: căn bệnh là ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của lợn, dê, cừu, bò, hươu, đôi khi thấy ở ngựa, người.
Kích thước ấu trùng khác nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có hình bọc, bên ngoài là mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành, lộn ra phía ngoài. Ở những vùng nuôi nhiều chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn càng nhiều. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng. Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của dê phụ thuộc vào số chó nhiễm sán trưởng thành.
Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 2. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước. lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam). Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người.
Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã. Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó. Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và thú hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài sán Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm các loài trong đó có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis. Năm 1963, Trịnh Văn Thịnh đã có công trình tổng kết được hầu hết những nghiên cứu trước đó, trong đó tác giả đã đề cập đến ấu trùng Coenurus cerabralis của loài sán dây Multiceps multiceps ở cừu.
Năm 1967 hai nhà ký sinh trùng học người Ba Lan là Drozdz và Malczewski đã công bố các loài sán dây ở động vật nhai lại 8 tỉnh miền Bắc, trong đó có ấu trùng Cysticercus tenuicollis của loài Taenia hydatigena. Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] đã mổ khám 174 cá thể thuộc 21 loài của bộ ăn thịt, kết quả cho thấy, trong các loài mèo rừng, cầy giông, cầy hương, cày lỏn và chó nhà được mổ khám phát hiện thấy các loài Taenia hydatigena, Taenia isifomis, Multiceps multiceps, Spirometra erinacei- europaei, Dipylidium caninum. n 5 Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [4]). Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [20], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3] Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã sắp xếp theo hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam.
Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau: Ngành Plathelminthes Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863 Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910 Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937 Loài Spirometra mansonoides (Mueller, 1935) Mueller, 1937 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940 Họ Dipylidiidae Mola, 1929 Giống Dipylidium Leuckart, 1863 Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 n 6 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782 Loài Multiceps multiceps Leske, 1780. Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940 Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782 Nhiều tác giả như Phan Thế Việt và cs (1977) [20], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở Việt Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6]: tính đến thời điểm hiện tại, người ta đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo. Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea.
Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [10] cho biết, đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam. Việc mô tả hình thái các loài sán dây này còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam. Sau này một số nhà ký sinh trùng học Việt Nam (Đỗ Dương Thái, Đặng Văn Ngữ, 1970; Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1976) cho rằng, loài thuộc giống Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni. Sự phán đoán này không dựa trên mẫu nên không có sự mô tả loài.
n 7 Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S. (1985) Diphyllobothrium mansoni không là tên đồng vật của một loài nào trong họ này. Khi nói về lịch sử nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài Spirometra erinacei-europaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum. Tuy nhiên, các tác giả có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [4]).
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại và không có mẫu.