Chương 1 - CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÁT SINH VÀ THOÁI HÓA ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT TRỒNG CHÈ 1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Vai trò và giá trị kinh tế của cây chè trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới Ngày nay, cây chè được trồng rộng rãi trên thế giới từ 42 o Bắc (Gruzia) đến 27o Nam (Achentina) với lịch sử có từ rất lâu đời, khoảng hơn 4.
Cho đến nay, chè được sản xuất ở 58 quốc gia với quy mô khác nhau, phân bố khắp 5 châu lục. Châu Á chiếm vị trí chủ đạo về diện tích trồng và sản lượng chè sau đó là Châu Phi, ít nhất là Châu Đại Đương. Châu Á có 17 nước và Châu Phi có 15 nước trồng chè, trong đó có: Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Iran, Việt Nam, Nepal, Triều Tiên, Pakistan, Nhật Bản; Kenya, Malawi, Uganda, Tanzania, Ruanda, Nam Phi, Congo,… Còn lại số ít các quốc gia thuộc Châu Mỹ (Argentina, Brazil, Peru, Ecuado) và Châu Âu [24]. Quốc gia đầu tiên trên thế giới phát triển sản xuất chè là Trung Quốc, sau đó sản xuất chè được truyền bá sang Nhật Bản vào những năm 805 sau Công nguyên, vào Indonexia năm 1654, vào Ấn Độ năm 1780, vào Nga năm 1833, và những năm 1920 vào các nước thuộc Châu Phi như: Kenia, Malavi, Ghine…[24].
Số liệu thống kê ở bảng 1.1 cho thấy: Diện tích chè thế giới 50 năm qua tăng mạnh trong 30 năm từ 1959 – 1989. Giai đoạn 1969 – 1979, diện tích chè tăng mạnh nhất từ 22,1% đến 86,7%. Trong khi đó, 20 năm trở lại đây, diện tích canh tác chè dần đi vào ổn định, mức tăng chậm hơn, khoảng 1,0% sau 10 năm. Trong 50 năm, năng suất chè thế giới chỉ giảm vào năm 1979 (giảm 22,7% so với 10 năm trước đó).
Các thập kỷ sau năng suất chè đều tăng từ 12,1% đến 27,0%, năng suất cao nhất vào năm 2009 đạt 12,99 tạ/ha. Sản lượng chè thế giới tăng mạnh trong 5 thập kỷ qua và đạt 3. Như vậy năng suất là vấn đề cốt lõi trong việc gia tăng sản lượng và thậm chí cả chất lượng. Trong những năm qua, diện tích chè tăng ít, việc tăng sản lượng là 5 z nhờ tăng năng suất.
Việc mở rộng diện tích đã không còn là một chỉ tiêu chủ yếu đối với các nước sản xuất chè. Các nước sản xuất chè hiện quan tâm đến các biện pháp thâm canh, xây dựng hệ thống canh tác đồng bộ, hiện đại và tuyển chọn, lai tạo những dòng chè tốt, chất lượng cao. Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới 50 năm qua Diện tích Năng suất Sản lượng Năm Tốc độ Tốc độ Tốc độ ha Tạ khô/ha tấn tăng* (%) tăng* (%) tăng* (%) 1959 832.900 28,5 *: tốc độ tăng so với 10 năm trước Nguồn: FAO 2010 Sản xuất chè của thế giới tập trung ở một số quốc gia chính như: Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka, Kenya, Việt Nam, Nhật Bản. Năm 2009, tổng sản lượng chè thế giới là 3.900 tấn, trong đó 97% sản lượng được sản xuất tại quốc gia đang phát triển (bảng 1.
Diện tích, năng suất, sản lượng ở một số quốc gia trồng chè chính trên thế giới năm 2009 Diện tích Năng suất Sản lượng TT Quốc gia (ha) (tạ/ha) (tấn) 1 Ấn Độ 445.000 Toàn thế giới 2.900 Nguồn: FAO 2010 6 z Ấn Độ có sản lượng chè lớn nhất 845. Trung Quốc có diện tích chè lớn nhất thế giới nhưng sản lượng đứng thứ hai 821. Kế đến là Sri Lanka, Kenya, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam. Các nước cho năng suất chè cao nhất, trên 20 tạ/ha phải kể đến Kenya và Nhật Bản.
Trong khi chè được trồng tại khoảng 60 nước trên thế giới, thì trên 70% sản lượng được cung cấp bởi Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka và Kenya; Trung Quốc và Ấn Độ chiếm trên 50% tổng sản lượng chè sản xuất toàn thế giới. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam a. Lịch sử phát triển cây chè ở Việt Nam Thời kỳ phong kiến: Theo các tài liệu về nông nghiệp Việt Nam và Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn năm 1773 (Bộ Bách Khoa tự điển đầu tiên của Việt Nam), từ thời kì các vua Hùng dựng nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thế hệ phát triển nông nghiệp đến ngày nay hình thành 2 vùng chè lớn. Một là, vùng chè tươi của các hộ gia đình người Kinh ven châu thổ các con sông cung cấp chè tươi, chè nụ,… Hai là, vùng chè rừng của đồng bào dân tộc (Dao, Mông, Tày…) ở miền núi phía Bắc cung cấp chè mạn, chè chi… Người dân lao động và trung lưu thành thị uống chè tươi, chè nụ, chè chi, chè già; còn giới thượng lưu quý tộc thì uống chè mạn, chè ô long, chè tàu.
[24] Thời kỳ Pháp thuộc (1882-1945): Ngay sau khi chiếm đóng Đông Dương, người Pháp đã phát triển chè, một sản phẩm quý hiếm của Viễn Đông thành mặt hàng xuất khẩu sang Châu Âu. Những đồn điền chè đầu tiên được mở ra ở Tĩnh Cương (Phú Thọ) với 60 ha, Đức Phổ (Quảng Nam) với 230 ha, sau đó là các đồn điền chè ở Cao nguyên Trung Bộ. Ba cơ sở nghiên cứu chè được thành lập đó là: Trạm nghiên cứu nông nghiệp Phú Thọ (1918), trạm nghiên cứu chè Pleiku – Gia Lai (1927) và trạm nghiên cứu chè Bảo Lộc ở Lâm Đồng (1931). Đến năm 1938, Việt Nam có trên 13.000 ha chè với sản lượng hơn 6.000 tấn chè khô, diện tích chè chủ yếu ở vùng Bắc Bộ và Cao nguyên Trung Bộ.
Sau tháng 8 năm 1945 thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam để lại hai vùng chè tập trung: Tây Nguyên và Trung du miền núi phía Bắc hàng năm sản xuất 6.000 tấn 7 z chè khô; chè đen xuất khẩu thị trường Tây Âu, chè xanh xuất khẩu thị trường Bắc Phi, tiêu thụ ổn định và được đánh giá cao về chất lượng, không thua kém chè Ấn Độ, Srilanca và Trung Quốc [34]. Giai đoạn 1945 - 1954: Đây là thời kỳ suy thoái của ngành chè Việt Nam. Do ảnh hưởng của chiến tranh, các cơ sở nghiên cứu về chè ở miền Bắc (Phú Hộ), ở miền Nam (Bảo Lộc) đều bị phá hoại nặng nề, các vườn chè bị bỏ hoang, sản xuất chè đình trệ làm cho diện tích và sản lượng chè đều giảm sút [34]. Giai đoạn 1954 - 1990: Cây chè được đánh giá là cây có giá trị kinh tế cao, có tầm quan trọng chiến lược trong phát triển kinh tế miền Bắc vì vậy nhiều nông trường Quốc doanh, hợp tác xã chuyên canh chè đã được thành lập.
Cơ sở nghiên cứu chè ở Phú Hộ, Lâm Đồng được khôi phục và phát triển. Sản phẩm chế biến chè chủ yếu xuất khẩu sang Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ [24]. Từ năm 1990 đến nay: Vượt qua khó khăn do biến động tại thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu do hệ thống xã hội chủ nghĩa Liên Xô bị tan rã, Việt Nam nỗ lực đổi mới về sản xuất, quản lý ngành chè. Đến nay, Việt Nam đã trở thành một trong 10 quốc gia đứng đầu thế giới về diện tích, sản lượng chè, đứng thứ 8 về xuất khẩu chè.
Diễn biến về diện tích, sản lượng, kim ngạch xuất khẩu chè của nước ta nhưng năm gần đây được thống kê theo bảng 1. Diễn biến diện tích, sản lượng sản xuất - chế biến chè của Việt Nam Diện tích Sản lượng Xuất khẩu Kim ngạch Giá XK bình quân Năm (1.470 Nguồn: Hiệp hội chè Việt Nam 8 z b. Các vùng trồng chè chính ở Việt Nam Với lịch sử hàng ngàn năm phát triển, Việt Nam tự hào là một trong những cái nôi phát triển cây chè. Trong quá trình phát triển đó,Việt Nam đã hình thành các vùng chè theo vùng địa lý tự nhiên [24].
Vùng chè Tây Bắc Vùng Tây Bắc có các loại đất thích hợp cho cây chè như: đất đỏ vàng, đất đỏ nâu, tầng đất dày, ít dốc (<25 o). Chè trồng tập trung ở Sơn La (3 tiểu vùng Mộc Châu, Mai Sơn, Phù Yên), Lai Châu (2 tiểu vùng Phong Thổ, Tam Đường). Song do điều kiện khí hậu có lượng mưa bình quân 1.000 mm/ năm, mùa khô từ tháng XI đến tháng III. Thời gian khô hạn kéo dài và nhiệt độ xuống thấp làm cho sinh trưởng và năng suất chè thấp hơn các vùng khác [8].
Vùng chè Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn Vùng núi Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn có địa hình phức tạp, đại bộ phận là vùng núi thấp, độ cao 100 - 500 m. Khí hậu vùng này ẩm ướt quanh năm, đặc biệt có mưa phùn nửa cuối mùa đông (50 ngày/năm) rất có lợi cho sinh trưởng cây chè. Mùa hè mưa lớn trên các sườn núi cao và trong thung lũng gây xói mòn mạnh điển hình là các vườn chè trên sườn núi Tây Côn Lĩnh. Các loại đất trồng chè chủ yếu là đất đồi và núi bao gồm các loại đất đỏ vàng, đất vàng phát triển trên sa thạch và phiến thạch.
Ở vùng này có chè đồi công nghiệp và chè rừng dân tộc. Chè đồi công nghiệp như: Tân Trào (Tuyên Quang), Việt Lâm, Hùng An (Hà Giang), Trần Phú, Nghĩa Lộ (Yên Bái), Bảo Thắng, Mường Khương (Lào Cai). Chè rừng dân tộc Dao tập trung ở độ cao 300 - 600 m. Đất trồng chè thường là đất dưới rừng già, nhiều mùn.
Chè được trồng ven suối, dưới tán cây lớn, đất dốc thoải [8]. Vùng chè Đông Bắc Đất thuộc loại đất đỏ vàng, độ xốp trung bình, nghèo dinh dưỡng, dễ bị xói mòn do mưa lớn trên các sườn dốc. Vùng này có chè rừng cổ thụ Mẫu Sơn ở Lạng Sơn. Sản phẩm trà xanh là chủ yếu, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu sang Trung Quốc.
9 z Do độ cao và nhiệt độ thấp, biên độ ngày đêm cao, nhiều sương mù nên trà có chất lượng cao hơn vùng Trung du Bắc Bộ. Vùng chè Trung du Bắc Bộ Vùng này nằm tại ranh giới giữa miền núi và miền đồng bằng Bắc Bộ bao gồm các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình, Vĩnh Phú, Thái Nguyên và Hà Nội. Đất vùng chè trung du Bắc Bộ chủ yếu là đất feralit phân bố ở địa hình đồi núi, chia cắt mạnh, có 5 loại chính: Đất phát triển trên phiến thạch sét; đất phát triển trên phiến thạch gnai và mica; đất nâu đỏ trên phù sa cổ; đất vàng nhạt phát triển trên đá cát. Đây là vùng chè lớn miền Bắc, có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh chè lâu đời như Vân Lĩnh, Đoan Hùng, Sông Cầu, Văn Hưng, Phú Sơn.
Năng suất bình quân của vùng khoảng 3-4 tấn búp/ha, không đồng đều có sự chênh lệch lớn giữa các tỉnh [8].