Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về địa lí trồng trọt Chương 2: Các nhân tố tác động đến phát triển và phân bố ngành trồng trọt tỉnh Thanh Hoá. Chương 3: Thực trạng phát triển và phân bố ngành trồng trọt tỉnh Thanh Hoá. Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển và phân bố ngành trồng trọt tỉnh Thanh Hoá đến năm 2025 và tầm nhìn 2030. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỊA LÍ NGÀNH TRỒNG TRỌT 1.
Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Trên thế giới Những nghiên cứu về địa lí ngành trồng trọt gắn liền với nghiên cứu về nông nghiệp, tổ chức lãnh thổ nông nghiệp; địa lí cây trồng. Nghiên cứu nông nghiệp dưới góc độ Địa lí học có công trình tiêu biểu Grigg D và Singh J. trong đó những cơ sở lí luận của Địa lí nông nghiệp đã được đề cấp đến chi tiết như: khái niệm, hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp, tác động của nông nghiệp đến môi trường, thực trạng phát triển và sự phân hóa sản xuất nông nghiệp theo không gian [37].
Các nhà địa lí học Xô Viết như: K. Kriutskov,… đã có nhiều nghiên cứu về TCLTNN trong đó, trồng trọt là một bộ phận của sản xuất nông nghiệp. Tổ chức lãnh thổ sẽ cho phép sử dụng có hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, nguồn lao động và đảm bảo năng suất lao động xã hội cao nhất [48]. Như vậy, việc phát triển ngành trồng trọt cần dựa trên những đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng đó và đặc biệt phải tuân theo những nguyên tắc về tổ chức lãnh thổ.Những nghiên cứu của FAO về cây trồng là cơ sở để phát triển và phân bố ngành trồng trọt trên thế giới, FAO đề nghị 10 bước trong bố trí cây trồng sử dụng đất.
Hoạt động chính trong phương pháp này là lựa chọn các loại hình sử dụng đất (Land use type) trên cơ sở đánh giá đất. Phương pháp này được FAO đưa ra vào năm 1976 và liên tục được bổ sung hoàn thiện vào các năm 1990, 1991, 1993 [48].Với nguyên tắc đánh giá đất sẽ hỗ trợ cho việc bố trí cơ cấu cây trồng. FAO cũng quy định các tiêu chuẩn để đánh giá thích nghi của cây trồng trong đánh giá đất như: 1. Rất thích nghi: trên 80% năng suất tiềm năng, 2.
Thích nghi: 40 – 80% năng suất tiềm năng, 3. Thích nghi giới hạn: 20 – 40% năng suất tiềm năng và 4. Không thích nghi: dưới 20% năng suất tiềm năng. Ngoài ra những nghiên cứu về cây trồng theo hướng sinh thái cũng góp phần làm cơ sở để phát triển và phân bố cây trồng trên thế giới.
Những kết quả nghiên cứu về trồng trọt thường gắn liền với khái niệm về hệ thống nông nghiệp (Agricultural Systems), hệ thống cây trồng (cropping systems), nông nghiệp bền vững (permaculture), nông nghiệp sinh thái (Agroecosystem), hệ thống canh tác (farming systems),…[48]. Ở Việt Nam Nghiên cứu về địa lí ngành trồng trọt gắn liền với các nghiên cứu về địa lí nông nghiệp và địa lí cây trồng. Theo quan điểm của các nhà địa lí Xô Viết, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ cũng đã làm rõ những lí luận về tổ chức lãnh thổ ngành trồng trọt, được thể hiện trong các ấn phẩm: Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, Địa lí kinh tế xã hội đại cương, Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, Địa lí nông – lâm – thủy sản,… [33], [41], [42][43]. Cùng quan điểm, Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức cũng đã phân tích đánh giá đầy đủ đặc điểm, vai trò, nhân tố ảnh hưởng, tình hình phát triển và phân bố của nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng qua nhiều ấn phẩm [31],[32].
Công trình của Đặng Văn Phan về TCLTNN cũng đưa ra những nội dung về tổ chức sản xuất ngành trồng trọt với nhiều các tiêu chí khác nhau [18]. Các công trình về tổ chức trồng và chế biến các loại cây trồng là những luận cứ quan trọng để đề xuất cơ cấu cây trồng hợp lí trên lãnh thổ. Ông Thị Đan Thanh (1986) phân tích thực trạng trồng và chế biến cao su, đánh giá các nguồn lực, phát hiện thế mạnh và hạn chế trong việc tổ chức lãnh thổ giữa trồng và chế biến cao su ở các tỉnh Đông Nam Bộ [25]; Phạm Xuân Hậu (1993) nghiên cứu việc trồng và chế biến mía ở Đồng bằng sông Cửu Long [13], Trịnh Thanh Sơn (2001) nghiên cứu tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến sắn ở các tỉnh Đông Nam Bộ [24], Nguyễn Thị Trang Thanh (2012) nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Nghệ An [28]… Dưới góc độ này, các nhà địa lí đều tập trung phân tích những vấn đề về tổ chức sản xuất cây trồng gắn với sự phát triển của công nghiệp chế biến. Những học giả đi tiên phong trong nghiên cứu về cây trồng và cơ cấu cây trồng là Đào Thế Tuấn, Bùi Huy Đáp, Phạm Chí Thành, Nguyễn Duy Tính,… Phần lớn những nghiên cứu của họ đi theo hướng sinh thái nông nghiệp [8], [28], [40].
Những nghiên cứu về nông nghiệp Thanh Hóa dưới nhiều góc độ khác nhau đề cập rất cụ thể đến ngành trồng trọt như: Công trình Địa chí Thanh Hóa (tập III – Kinh tế) [34] là tài liệu tổng hợp cung cấp tư liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng phát triển của các ngành kinh tế tỉnh Thanh Hóa trong đó có ngành trồng trọt.Tác giả Lê Văn Trưởng đã công bố các kết quả nghiên cứu về nông nghiệp Thanh Hóa, xác định cụ thể các chỉ tiêu đánh giá chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phân tích đặc điểm hệ thống nông nghiệp, các 7 xu hướng đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp [39].Nguyễn Đình Giang (1996) đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên vùng đồi phía Đông tỉnh Thanh Hóa phục vụ một số cây ăn quả có giá trị [11]. Lê Kim Chi nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa [4]. Đào Thanh Xuân (2017) nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở tỉnh Thanh Hóa [48]. Trong những năm gần đây, việc phát triển nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa được đẩy mạnh theo hướng nông nghiệp hàng hóa gắn liền với phát triển công nghiệp.
Tỉnh Thanh Hóa đã quy hoạch các vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến: Quy hoạch vùng nguyên liệu mía, vùng nguyên liệu dứa, vùng nguyên liệu sắn, vùng sản xuất rau an toàn,. Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước là cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn để tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn của mình. Cơ sở lí luận về địa lí ngành trồng trọt 1. Khái niệm về trồng trọt và cây trồng 1.
Khái niệm về trồng trọt Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Trồng trọt là hoạt động của con người nhằm tác động vào đất đai và giống cây trồng để tạo ra sản phẩm trồng trọt khác nhau. Theo quan điểm của sinh thái nông nghiệp, Trồng trọt là ngành học nghiên cứu về các loại cây trồng và tất cả yếu tố làm gia tăng sự phát triển của chúng như ánh sáng, nước, nhiệt độ và dưỡng chất, cũng như là những điều kiện ngăn cản sự phát triển của cây trồng như cỏ dại, bệnh, côn trùng. Theo quan điểm địa lí học, Trồng trọt là ngành quan trọng nhất trong nông nghiệp nhằm khai thác và sử dụng đất đai để tạo ra các sản phẩm thực vật. Trồng trọt là nền tảng của sản xuất nông nghiệp với chức năng cung cấp LTTP cho con người, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, là cơ sở để phát triển chăn nuôi và cũng là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị [42].
Cơ cấu ngành trồng trọt:Cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt là cấu trúc bên trong của ngành trồng trọt. Nó bao gồm các bộ phận hợp thành và các mối quan hệ tỷ lệ hữu cơ giữa các bộ phận đó trong điều kiện thời gian và không gian nhất định. Cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt bao gồm những nội dung như: cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt theo ngành, cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt theo vùng kinh tế lãnh thổ và cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt theo thành phần kinh tế. Tất cả những nội dung đó gắn bó hữu cơ với nhau, trong đó cơ cấu ngành giữ vai trò là hạt nhân [48].
8 Ngành trồng trọt bao gồm các tiểu ngành sản xuất, chuyên môn hoá như: sản xuất lương thực, sản xuất cây công nghiệp, sản xuất cây ăn quả, sản xuất rau. Chúng được hình thành trên cơ sở phân công lao động trong quá trình sản xuất. Các tiểu ngành các bộ phận sản xuất trong ngành trồng trọt chúng phát triển và kết hợp với nhau theo một tỷ lệ nhất định tạo thành cơ cấu ngành trồng trọt. Khái niệm, phân loại và đặc điểm về cây trồng Đối tượng tác động quan trọng nhất của ngành trồng trọt là cây trồng.
Đặc điểm sản xuất, đặc điểm sinh thái, đặc điểm phân bố của các loại cây trồng quyết định đặc điểm phát triển ngành trồng trọt. a) Khái niệm cây trồng: + Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cây trồng là loại cây được thuần hóa, chọn lọc để trồng trọt, đưa vào sản xuất nông nghiệp”.Cây trồng rất đa dạng và phong phú, cho đến nay, người ta tính được khoảng 50 vạn loài khác nhau, trong số đó có hơn 1500 loài đã được con người gieo trồng, chăm sóc và bảo vệ, nhóm cây đó gọi chung là cây trồng [44]. Cây trồng có vai trò vô cùng quan trọng đối với xã hội loài người, là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống con người, là nguyên liệu để sản xuất đồ dùng, nhu yếu phẩm hằng ngày, là nguyên liệu để chế các loại thuốc chữa bệnh, tạo cảnh quan, môi trường sống đẹp và thuận lợi. Ngành trồng trọt có đối tượng sản xuất là cây trồng b)Phân loại cây trồng: Có nhiều cách khác nhau để phân loại cây trồng tùy mục đích nghiên cứu.
* Phân loại theo điều kiện sinh thái chia thành 4 nhóm: cây trồng xích đạo, cây nhiệt đới, cây trồng cận nhiệt, cây trồng ôn đới. * Dựa vào thời gian sinh trưởng và phát triển có thể chia thành: Nhóm cây trồng lâu năm (cây sống hàng chục năm như cao su, mít, chè, lê, táo,…); nhóm cây trồng nhiều năm (sống hai ba năm như đậu ván, ớt, cà, sắn… những cây này có thể trồng 1 năm); nhóm cây ngắn ngày (cây hoàn thành chu kỳ sinh trưởng trong vòng vai ba tháng như lúa, ngô, khoai tây, vừng, lạc, rau cải, xu hào,…). Tổng quát hơn có cây ngắn ngày (cây hàng năm) và cây dài ngày (cây lâu năm).