chương 1 từ khái niệm, phân loại đến phương thức đặt địa danh, mối quan hệ giữa văn hóa và địa danh lần lượt được tác giả làm rõ. Trên cơ sở đó, chương 2 đi sâu khai thác văn hóa thể hiện qua địa danh ĐT dưới góc nhìn không gian, thời gian và chủ thể, chương 3 nghiên cứu văn hóa dưới góc nhìn các hoạt động (kinh tế, giao thông, tôn giáo tín ngưỡng,. Nhìn chung, luận văn thể hiện sự nghiêm túc trong nghiên cứu văn hóa một địa phương cụ thể thông qua địa danh. Vì thế, đã đem lại cái nhìn tương đối hệ thống với địa danh của tỉnh ĐT.
Nguyễn Tấn Anh trong luận văn thạc sĩ Ngữ văn Những đặc điểm chính của địa danh ở Vĩnh Long (2008) tìm hiểu địa danh VL dưới góc nhìn ngôn ngữ học so sánh. Nhận diện đặc điểm về mặt cấu tạo, đặc điểm về mặt chuyển biến, đặc điểm về nguồn gốc, ý nghĩa và giá trị phản ánh hiện thực là những nội dung chính mà luận văn làm rõ. Khi tìm hiểu giá trị phản ánh hiện thực tác giả cũng dành một phần để nghiên cứu giá trị phản ánh văn hóa của địa danh VL. Chỉ trong bốn trang nhưng Nguyễn Tấn Anh (2008) đã khái quát được một số vấn đề liên quan đến văn hóa qua địa danh, nhất là khẳng định: Kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước cho thấy cùng một đối tượng nhưng mỗi dân tộc lại có một cách gọi tên khác nhau là do ảnh hưởng của yếu tố văn hóa.
Người nghiên cứu thông qua việc khảo sát cách “tuyển chọn” các thuộc tính để đặt địa danh làm căn cứ để hiểu toàn bộ sự vật, hiện tượng và khái niệm đó của một cộng đồng dân cư, một dân tộc và nhận biết văn hóa của họ.148) 10 hay như “Các đặc điểm về giai tầng xã hội như giới tính, trình độ văn hóa, thành phần xuất thân. ảnh hưởng rất lớn đến việc tuyển chọn những từ ngữ sẵn có trong vốn từ chung tạo ra địa danh” (Nguyễn Tấn Anh, 2008, tr. Tương tự Nguyễn Tấn Anh, từ góc nhìn ngôn ngữ, luận văn chuyên ngành Ngữ văn Những đặc điểm của địa danh tỉnh Tiền Giang của Nguyễn Thị Kiều Oanh (2011) chú trọng làm rõ đặc điểm địa danh TG thông qua phương thức cấu tạo và chuyển biến của địa danh. Tác giả không quên đi sâu nghiên cứu giá trị hiện thực của địa danh, trong đó nhấn mạnh giá trị phản ánh văn hóa qua nhiều địa danh mang dấu ấn tôn giáo như rạch Chùa Thuộc, cầu Hai Chùa, cầu Rạch Đình,.
Nguyễn Thị Kiều Oanh (2011) khẳng định đặc trưng tiêu biểu ở TG: Nhiều địa danh phản ánh khá rõ nét các sinh hoạt tôn giáo và đạo Phật là tôn giáo lớn nhất ở Tiền Giang đã hoạt động lâu đời nên có nhiều công trình xây dựng tôn giáo được chuyển hóa vào các vị trí các yếu tố của địa danh chủ yếu mang yếu tố Phật giáo.99) Nguyễn Thị Kim Phượng trong luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học Nghiên cứu địa danh ở tỉnh Bến Tre (2009, Đại học Sư phạm TPHCM) tập trung nghiên cứu ba vấn đề chính liên quan đến địa danh tỉnh Bến Tre là phương thức định danh, đặc điểm cấu tạo và nguyên nhân biến đổi. Trong chương 3, khi tìm hiểu giá trị phản ánh hiện thực, đặc điểm nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh, tác giả dành một nội dung nghiên cứu địa danh phản ánh văn hóa ở BT (tâm lý, tín ngưỡng tôn giáo, du lịch, vui chơi giải trí, sinh hoạt. Qua đó, Nguyễn Thị Kim Phượng (2009) khẳng định: Đại đa số cư dân Nam Bộ và tỉnh Bến Tre có nguồn gốc từ miền Thuận-Quảng. Trên con đường di dân, những lưu dân Việt đã tiếp thu những tập tục tín ngưỡng của các cư dân bản địa khác.
Văn hóa Bến Tre là sự tổng hợp của nhiều nền văn hóa của các tộc người khác. Và điều này cũng tạo nên sự đa dạng về văn hóa được phản ánh trong địa danh.111) Nguyễn Văn Diệp trong luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học Khía cạnh văn hóa của địa danh ở tỉnh Tiền Giang (2010) chú trọng các khía cạnh lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội ở vùng đất TG. làm nền tảng để tìm hiểu văn hóa thể hiện qua địa 11 danh. Dựa trên những tiền đề lý luận, kết quả thu thập và phân loại địa danh, tác giả nghiên cứu văn hóa thể hiện qua địa danh TG dưới góc nhìn không gian, thời gian, chủ thể văn hóa, các hoạt động.
Ở mỗi góc nhìn, Nguyễn Văn Diệp (2010) giới thiệu và phân tích địa danh TG bằng nhiều dẫn chứng thuyết phục bởi theo tác giả: Nghiên cứu địa danh là một trong nhiều con đường khác nhau để tiếp cận, khám phá những diễn trình lịch sử, văn hóa của một vùng đất.là một trong những chứng cứ quan trọng để tìm hiểu quá trình hình thành của một bộ tộc, một dân tộc ở các mặt địa lý, tổ chức xã hội qua các thời kỳ.6) Chính những cứ liệu tác giả đưa ra đã góp thêm nhiều ý tưởng để việc thực hiện đề tài được toàn diện hơn. Với luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học Những đặc điểm chính của địa danh An Giang (2011), Nguyễn Thị Thái Trân đã nghiên cứu phương thức định danh và cấu tạo địa danh, chỉ ra nguồn gốc một số địa danh và giá trị phản ánh hiện thực của địa danh An Giang. Trong phần này, tác giả làm rõ bốn giá trị về mặt lịch sử, tự nhiên, văn hoá và ngôn ngữ. Dù không nhiều nhưng cũng đủ để chúng tôi nhận diện mối quan hệ hữu cơ giữa địa danh học với các lĩnh vực khác thuộc chuyên ngành ngôn ngữ học và các lĩnh vực cận ngành, trong đó có văn hóa học.
Lý Thị Minh Ngọc khi thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học Văn hóa qua địa danh ở tỉnh Trà Vinh (2012) đã tập trung vào cơ sở lý luận (địa danh, các loại địa danh, mối quan hệ văn hóa và địa danh) và cơ sở thực tiễn (không gian văn hóa, thời gian văn hóa, chủ thể văn hóa) để triển khai luận văn. Hai chương 2 và 3 làm rõ giá trị văn hóa vật chất (lịch sử, địa lý, giao thông), văn hóa tinh thần (tâm lý, ngôn ngữ và văn học, tín ngưỡng tôn giáo, hoạt động giáo dục và vui chơi giải trí, hoạt động quân sự) của tỉnh TV từ góc nhìn địa danh, Lý Thị Minh Ngọc (2012) : Nếu phân tích tất cả các địa danh của tỉnh Trà Vinh, ta sẽ thấy rõ sự hiện hữu, giao thoa của nền văn hoá Kinh và các nền văn hoá của các dân tộc thiểu số khác một cách đầy đủ, phong phú và đa dạng.51) Quả thật, luận văn cung cấp nhiều cứ liệu thú vị nhưng do chỉ tìm hiểu về địa danh 12 ở TV nên công trình chưa tạo được tính hệ thống và cái nhìn toàn diện với văn hóa qua địa danh ở vùng TNB. Trong luận án tiến sĩ Văn hóa dân gian Địa danh tỉnh Vĩnh Long qua góc nhìn văn hóa dân gian (2017), Ngô Thị Thanh lựa chọn tìm hiểu sự hình thành và biến đổi địa danh tỉnh VL trong không gian và thời gian văn hóa làm nội dung trọng tâm để lý giải đặc trưng địa danh từ văn hóa dân gian trên địa bàn. Vì lý do đó mà chương 2 tác giả hướng đến nghiên cứu “Chủ thể và quá trình giao lưu văn hóa chi phối nguồn gốc hình thành địa danh VL”, chương 3 làm rõ “Địa danh VL hình thành và biến đổi trong không gian và thời gian văn hóa”, chương 4 tập trung “Nhận xét kết quả nghiên cứu địa danh tỉnh VL qua góc nhìn văn hóa dân gian”.
Qua 4 chương luận án, Ngô Thị Thanh cho thấy nét khác biệt hơn so với các công trình trước ở chỗ thu hẹp nghiên cứu địa danh từ hướng nghiên cứu văn hóa dân gian. Chính vì thế mà công trình đem lại những kiến giải có ý nghĩa để chúng tôi tham khảo và làm cơ sở triển khai các vấn đề liên quan đề tài, nhất là địa danh trong không gian văn hóa VL bởi “Hầu như không gian văn hóa sông nước của phù sa chi phối các địa danh tự nhiên.Song song đó, đi kèm với đặc điểm về địa hình là tình hình đất đai thổ nhưỡng” (Ngô Thị Thanh, 2017, tr. Có thể thấy rằng, TNB nói riêng đã thu hút sự quan tâm tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu. Từ góc nhìn địa danh, nhiều công trình đã có đóng góp không nhỏ và là những tài liệu tham khảo hữu ích khi nghiên cứu văn hóa qua địa danh ở vùng đất này, nhất là những công trình ghi chép, tập hợp, hệ thống các địa danh theo từng địa phương cụ thể như BT, TG, AG, VL.
Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Thông qua việc hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, chúng tôi rút ra một số nhận định sau: Nhóm Các công trình nghiên cứu liên quan đến địa danh ở Việt Nam đem lại cái nhìn tổng quan về quá trình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam. Trước thế kỷ XX, địa danh đã được quan tâm, giải thích nguồn gốc nhưng các nội dung đó cũng chỉ “Được xem như là phần phụ của công trình, chứ chưa quan tâm đến vấn đề một 13 cách đúng mức” (Lê Trung Hoa, 2006, tr.22) bởi mục tiêu chính vẫn là đề cập đến phong thổ, đặc trưng phong tục của mỗi địa phương được tìm hiểu. Những công trình từ sau năm 1960 có sự chú trọng nhiều hơn đến địa danh, không chỉ tập trung giải thích địa danh mà bước đầu xác lập cơ sở lý luận để nghiên cứu địa danh một cách khoa học, nhất là những công trình xuất hiện thập niên cuối thế kỷ XX. Nhóm Công trình nghiên cứu liên quan đến địa danh Nam Bộ nói chung và TNB nói riêng cho thấy nghiên cứu địa danh đã thực sự được quan tâm.
Từ những công trình địa chí, địa lý đến những nghiên cứu cụ thể tìm hiểu, lý giải nguồn gốc, phân loại.đều cho thấy địa danh không còn là một mảng được quan tâm khi nghiên cứu các lĩnh vực khác mà địa danh đã có một vị trí xứng đáng trong nghiên cứu. Đóng góp lớn nhất của các công trình này là cung cấp những tiền đề lý luận quan trọng trong nghiên cứu địa danh ở Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Nhóm Công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa qua địa danh ở TNB cung cấp cái nhìn chi tiết hơn, có nhiều công trình liên quan trực tiếp đến đề tài khi đi sâu vào lĩnh vực đề tài chú trọng là văn hóa qua địa danh.