Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 62317001) với đề tài “Địa danh ở Ninh Thuận và Bình Thuận dưới góc nhìn văn hóa học” được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Thủy tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2018).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Ninh Thuận và Bình Thuận (NTBT) là khu vực cư trú lâu đời của cộng đồng người Chăm cùng các tộc người Việt, K’ho, Raglai và Hoa. Nơi đây từng là trung tâm của tiểu quốc Panduranga thuộc vương quốc Champa cổ, sau đó tiếp nhận các làn sóng di dân của người Việt từ cuối thế kỷ XVII. Sự tích hợp và tiếp nối lịch sử này đã để lại một hệ thống địa danh phong phú, phản ánh đậm nét quá trình thích ứng tự nhiên, giao lưu văn hóa và tổ chức xã hội. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây về địa danh NTBT chủ yếu tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học thuần túy (ngữ âm, từ nguyên) hoặc địa lý lịch sử đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống địa danh ở hai tỉnh này một cách toàn diện dưới góc nhìn chuyên ngành Văn hóa học để giải mã các tầng vỉa văn hóa, thế giới quan và ứng xử sinh tồn của các cộng đồng cư dân. Bên cạnh đó, trước áp lực của quá trình số hóa và đơn giản hóa hành chính hiện nay, nhiều địa danh cổ mang giá trị lịch sử – văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị thay đổi hoặc biến mất, đòi hỏi phải có sự khảo sát, thống kê và nhận diện khoa học.

  • Mục đích nghiên cứu:

    1. Nhận diện đặc trưng văn hóa vùng miền, văn hóa tộc người qua cách thức đặt địa danh ở vùng đất NTBT.
    2. Ứng dụng hướng nghiên cứu văn hóa từ góc độ liên ngành bằng cách kết hợp giữa đối tượng khảo sát là địa danh (một yếu tố thuộc phạm trù ngôn ngữ học) với mục đích nghiên cứu là nội dung văn hóa.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:

    1. Trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của địa bàn nghiên cứu; xác định rõ khung lý thuyết, các khái niệm then chốt (địa danh, văn hóa) và mối quan hệ giữa địa danh với văn hóa.
    2. Thu thập tối đa tập hợp địa danh chỉ đối tượng tự nhiên và nhân tạo từ các nguồn gốc ngôn ngữ khác nhau trên địa bàn để tổng hợp, phân loại, phân tích và so sánh.
    3. Phân tích cơ sở dữ liệu đã thu thập nhằm chỉ ra các đặc trưng văn hóa thông qua các thành tố của hệ thống văn hóa được lựa chọn.
    4. Làm rõ mối quan hệ tương quan, tương hỗ và mức độ bao hàm giữa địa danh và văn hóa.
  • Câu hỏi nghiên cứu:

    • Câu hỏi 1: Địa danh ở NTBT có thay đổi theo thời gian, không gian và nhu cầu của con người hay không?
    • Câu hỏi 2: Văn hóa được thể hiện trong địa danh NTBT như thế nào?
    • Câu hỏi 3: Những nội dung nào trong văn hóa vùng đất này được các địa danh tập trung phản ánh, nội dung nào ít hoặc không được địa danh phản ánh?
    • Câu hỏi 4: Địa danh có phải là một bản sao chụp của hiện thực tự nhiên và văn hóa hay không?
    • Câu hỏi 5: Chủ thể đặt địa danh và các địa danh đó có mối quan hệ như thế nào?
  • Giả thuyết nghiên cứu:

    • Giả thuyết 1: Địa danh luôn biến đổi theo thời gian, không gian và nhu cầu của con người; đặc biệt khi nhu cầu, sở thích, mong muốn của con người thay đổi thì địa danh cũng thay đổi theo.
    • Giả thuyết 2: Địa danh và văn hóa có quan hệ mật thiết với nhau; địa danh phản ánh văn hóa trên nhiều phương diện, do đó có thể nghiên cứu văn hóa tộc người thông qua nghiên cứu địa danh.
    • Giả thuyết 3: Địa danh là sản phẩm của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và với môi trường xã hội.
    • Giả thuyết 4: Địa danh là một bản sao chụp của hiện thực tự nhiên và văn hóa.
    • Giả thuyết 5: Chủ thể định danh luôn có tác động mạnh mẽ đến địa danh.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Mối tương quan giữa văn hóa với địa danh và những nội dung văn hóa được tàng trữ trong tập hợp địa danh ở Ninh Thuận và Bình Thuận.
    • Phạm vi không gian: Địa bàn hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (khu vực cực Nam Trung Bộ với diện tích tự nhiên 11.188,56 km² và gần 300 km bờ biển).
    • Phạm vi thời gian: Khảo sát hệ thống tư liệu và địa danh hình thành từ năm 1693 trở về sau – mốc lịch sử Champa sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong, lập nên trấn Thuận Thành và mở đầu quá trình định cư quy mô lớn của người Việt.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

  • Địa chí và lịch sử phương Đông: Các ghi chép địa danh xuất hiện sớm trong thư tịch cổ Trung Quốc thời Đông Hán như Hán Thư của Ban Cố (23–220) hay Thủy Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên thời Bắc Ngụy (386–534).
  • Trường phái Địa danh học phương Tây (cuối thế kỷ XIX – giữa thế kỷ XX): J.J. Egli (Thụy Sĩ, 1872) và J. Nagl (Áo, 1890) với các chuyên luận Địa danh học; J. Gilliéron (Pháp, 1902–1910) với Atlat ngôn ngữ Pháp; A. Dauzat (Pháp, 1926) với Nguồn gốc và sự phát triển địa danh; Ch. Rostaing (Pháp, 1961) với Les noms de lieux. Nhóm này chủ yếu tiếp cận địa danh theo hướng địa lý học và từ nguyên học.
  • Trường phái Địa danh học Xô Viết: E. Murzaev (1960) với Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học; A. Superanskaja (1985) với Địa danh học là gì? (bản dịch tiếng Việt năm 2002) xác lập địa danh học như một chuyên ngành ngôn ngữ học nghiên cứu lịch sử hình thành, biến đổi, chức năng và mối liên hệ giữa tên gọi địa lý với văn hóa tinh thần, văn hóa vật chất.
  • Trường phái Anh – Mỹ hiện đại: Henry Alexander (1912) trong The place-names of Oxfordshire tiếp cận từ nguyên học; Margaret Gelling (1953, 1967, 1978) tiếp cận địa lý và thần thoại học; William Bright (2004) trong Native American placenames of the Southwest nghiên cứu phương thức định danh theo đặc trưng đối tượng và danh nhân; Paul Woodman (2012) phân chia địa danh thành Nội danh (Endonym) và Ngoại danh (Exonym) dựa trên tiêu chí tri nhận luận; Khvesko (2014) tiếp cận địa danh học liên ngành qua việc kết hợp dữ liệu văn hóa, lịch sử và địa lý.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Thư tịch địa chí cổ: Đào Duy Anh (Đất nước Việt Nam qua các đời, 1975); Lê Quang Định (Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, 1806/2005); Quốc sử quán triều Nguyễn (Đại Nam nhất thống chí, 1882); Nguyễn Siêu (Phương Đình dư địa chí, 1900); Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí, 1972).
  • Nghiên cứu địa danh hiện đại: Hoàng Thị Châu (1966) mở đầu hướng nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử qua tên sông; Trần Thanh Tâm (Thử bàn về địa danh Việt Nam, 1976) đúc kết tính xã hội, tính dân tộc và quy luật đặt tên; Nguyễn Văn Âu (Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, 2000) phân vùng địa danh theo cấu trúc loại – kiểu – dạng và miền – khu – vùng.
  • Các công trình chuyên sâu theo địa bàn: Lê Trung Hoa (Những đặc điểm chính của địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh, 1990; Địa danh học Việt Nam, 2011) xác lập hệ phương pháp và chia địa danh Việt Nam thành 5 vùng ngôn ngữ; Nguyễn Kiên Trường (1996) khảo sát địa danh Hải Phòng; Trần Văn Dũng (2004) nghiên cứu địa danh Đắk Lắk; Từ Thu Mai (2004) nghiên cứu địa danh Quảng Trị theo hướng ngôn ngữ – văn hóa; Trần Văn Sáng (2013) nghiên cứu địa danh gốc dân tộc thiểu số tại Thừa Thiên Huế; Vũ Thị Thắng (2014) khảo sát đặc trưng ngôn ngữ – văn hóa của địa danh Thanh Hóa.
  • Các luận văn tiếp cận góc độ văn hóa: Võ Nữ Hạnh Trang (2006, Đồng Nai); Nguyễn Thị Ngọc Bích (2008, Đồng Tháp); Nguyễn Phúc Bình (2008, TP.HCM); Nguyễn Văn Điệp (2010, Tiền Giang); Huỳnh Lê Thị Xuân Hương (2009, Khánh Hòa).
  • Hệ thống từ điển địa danh: Nguyễn Văn Tân (2002), Nguyễn Như Ý chủ biên (2004), Nguyễn Đình Tư (2008, 2014b), Lê Trung Hoa (2014a).
  • Các công trình trực tiếp về Ninh Thuận và Bình Thuận: Nguyễn Đình Đầu (Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Bình Thuận, 1996); Nguyễn Đình Tư (Non nước Ninh Thuận, 2003); Đề tài Bản sắc truyền thống Bình Thuận qua các địa danh... (Sở KH&CN Bình Thuận, 2005); Địa chí Bình Thuận (2006); Nguyễn Văn Phụng (Nghiên cứu địa danh tỉnh Bình Thuận, 2012); Đề tài Ngân hàng tên đường và công trình công cộng tỉnh Bình Thuận (2014); Địa danh tỉnh Ninh Thuận – Xưa và nay (2016); các bài báo khoa học của Lý Tùng Hiếu (2002, 2013, 2016), Đỗ Quang Sơn (2003), Phan Chính (2010, 2013), Chế Vỹ Tân (2012), Nguyễn Thanh Lợi (2012).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu khảo sát địa danh NTBT ở bình diện ngôn ngữ học (cấu tạo ngữ pháp, từ nguyên), địa lý tự nhiên hoặc ghi chép lịch sử địa bạ riêng lẻ từng tỉnh. Chưa có công trình nào tích hợp liên ngành để nghiên cứu địa danh của cả hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận như một chỉnh thể không gian văn hóa Chăm – Việt dưới góc nhìn Văn hóa học. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc chuyển trọng tâm từ phân tích "bên trong ngôn ngữ" sang giải mã các giá trị "bên ngoài ngôn ngữ", phân tích hệ thống địa danh như sự phản ánh các thành tố: không gian sinh thái, lịch sử di dân – tiếp biến văn hóa, đặc trưng chủ thể và các hoạt động văn hóa thực tiễn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khung khái niệm

  • Lý thuyết Địa danh học (Toponymy): Phân tích địa danh dựa trên hai thành tố cấu tạo: thành tố chung (general element) chỉ loại hình đối tượng và thành tố riêng (specific element) dùng để khu biệt, cá thể hóa. Kết hợp góc nhìn lịch đại (ngôn ngữ học so sánh lịch sử để phục nguyên từ cổ) và đồng đại (phân loại cấu tạo, phương thức định danh theo ý nghĩa). Vận dụng các luận điểm của Lê Trung Hoa, A. Superanskaja, Paul Woodman (phân biệt nội danh và ngoại danh).
  • Lý thuyết Địa lý học văn hóa (Cultural Geography) và Sinh thái học văn hóa (Cultural Ecology): Tiếp thu quan điểm của Carl Sauer, Julian Steward, Heatwole và các học giả Việt Nam như Trần Quốc Vượng, Đào Duy Anh, Phạm Đức Dương. Môi trường tự nhiên (khí hậu, địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn) là bối cảnh sinh thái; con người thích ứng, cải biến tự nhiên để sinh tồn và mã hóa quá trình đó vào hệ thống tên gọi địa lý.
  • Lý thuyết Hệ thống (Systemic Theory): Kế thừa tư tưởng cấu trúc luận và chức năng luận từ Ferdinand de Saussure, Claude Lévi-Strauss, Leslie White, Phạm Đức Dương, Lý Tùng Hiếu. Xem xét văn hóa như một hệ thống chỉnh thể với các thuộc tính hợp trội (emergence). Mô hình cấu trúc văn hóa trong luận án được thiết lập gồm 4 thành tố: Không gian văn hóa; Lịch sử văn hóa và giao lưu tiếp biến; Chủ thể văn hóa; Hoạt động văn hóa (vật thể và phi vật thể).
  • Tương đối luận văn hóa (Cultural Relativism): Dựa trên quan điểm của Franz Boas, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Văn Hiệu, Lý Tùng Hiếu. Mỗi nền văn hóa có hệ giá trị và cách tri nhận riêng phù hợp với bối cảnh lịch sử – sinh thái đặc thù; thừa nhận tính hợp lý của các cách giải thích địa danh theo từ nguyên dân gian của từng tộc người bản địa.
  • Khái niệm then chốt:
    • Địa danh: Tên gọi bằng từ hoặc ngữ dùng để định danh và cá thể hóa các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân tạo gắn liền với bề mặt đất đai, mang tính ký hiệu thứ cấp và là hệ thống biểu tượng văn hóa (theo cách hiểu của Ch. Pierce và Carl Jung).
    • Văn hóa: Toàn bộ các giá trị vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác, thích ứng với môi trường tự nhiên, xã hội và với chính bản thân mình.
    • Mối quan hệ giữa địa danh và văn hóa: Luận án xác định đây là quan hệ "lệch pha", quan hệ giữa bộ phận và toàn thể. Văn hóa bao trùm địa danh, địa danh là thành tố mang chứa thông tin văn hóa nhưng không thể phản ánh toàn bộ thực tiễn văn hóa. Địa danh là bản phác thảo hiện thực tự nhiên – xã hội đã được khúc xạ qua "bộ lọc" nhận thức, tâm lý, lợi ích của chủ thể định danh.
+-------------------------------------------------------------+
|                          VĂN HÓA                            |
|                                                             |
|       +---------------------------------------------+       |
|       |                  ĐỊA DANH                   |       |
|       |  (Bộ phận phản ánh hiện thực tự nhiên,      |       |
|       |   lịch sử, xã hội qua lăng kính chủ thể)    |       |
|       +---------------------------------------------+       |
|                                                             |
+-------------------------------------------------------------+

Tiêu chí phân loại địa danh theo văn hóa học

Luận án xây dựng bảng tiêu chí phân loại địa danh tích hợp giữa địa danh học và văn hóa học (Bảng 1.1 trong văn bản):

Tiêu chí phân loại Phân nhóm chính Các tiểu nhóm cụ thể
1. Theo đối tượng địa lý (dựa trên thành tố chung) Đối tượng tự nhiên - Các đối tượng sơn danh (núi, đồi, hòn, dốc, đèo...)
- Các đối tượng thủy danh (sông, suối, mương, hồ, đầm, vũng, vịnh, biển...)
Đối tượng nhân tạo - Các công trình xây dựng, cải tạo (cầu, cống, đập, tháp, đình, chùa, lăng, miếu, chợ...)
- Các đơn vị hành chính, cư trú (tỉnh, thành phố, thị xã, huyện, xã, thôn, buôn, plei, palei...)
2. Theo nguồn gốc ngôn ngữ (dựa trên thành tố riêng) Địa danh tiếng Việt - Địa danh thuần Việt
- Địa danh Hán Việt
Địa danh ngôn ngữ khác - Địa danh gốc Chăm
- Địa danh gốc Raglai, K’ho
- Địa danh gốc Hoa, ngoại ngữ
Địa danh hỗn hợp - Địa danh ghép các thành tố từ hai ngôn ngữ khác nhau (Việt – Chăm, Việt – Raglai...)
3. Theo trường ngữ nghĩa văn hóa (dựa trên cả hai thành tố) Không gian văn hóa - Phản ánh địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng
- Phản ánh khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái động thực vật
- Phản ánh cách thức phân lập không gian (phương hướng, kích thước, hình thể)
Lịch sử văn hóa - Phản ánh sự kiện, nhân vật, chức danh, tổ chức xã hội trong lịch sử
- Phản ánh sự di dân và giao lưu tiếp biến văn hóa
Chủ thể văn hóa - Phản ánh tộc người, giai tầng, nhân danh
- Phản ánh tâm lý, tính cách, khát vọng dân cư
Hoạt động văn hóa - Phản ánh văn hóa mưu sinh (biển, nông nghiệp, thủ công)
- Phản ánh văn hóa quân sự, tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian

Phương pháp nghiên cứu

  • Nhóm phương pháp khảo sát điền dã (Field study methods): Quan sát trực tiếp cảnh quan và phỏng vấn sâu các chuyên gia văn hóa Chăm/Việt, già làng, trí thức địa phương và người dân bản địa.
  • Phương pháp thống kê phân loại (Statistic classification method): Lập bảng danh mục, phân tách số lượng, tỷ lệ các kiểu loại địa danh theo đối tượng, nguồn gốc ngôn ngữ và trường nghĩa văn hóa để làm bằng chứng định lượng hỗ trợ phân tích định tính.
  • Phương pháp hệ thống cấu trúc (Structural system method): Đặt địa danh trong mối quan hệ hữu cơ với môi trường tự nhiên, xã hội và các thành tố cấu trúc của văn hóa vùng.
  • Phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu (Data analyse method): Khảo sát, xử lý các nguồn văn bản lưu trữ, địa chí cổ, số liệu hành chính và ghi chép thực địa.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu (Comparative-contrastive method): So sánh đối chiếu giữa địa danh gốc Chăm, Raglai với địa danh Việt; so sánh đặc điểm địa danh NTBT với các vùng văn hóa khác (Nam Bộ, Bắc Bộ, Tây Nguyên).

Nguồn tư liệu

  • Tư liệu sơ cấp: Kết quả của 7 đợt khảo sát điền dã thực hiện từ ngày 01/11/2012 đến ngày 10/01/2015 tại các địa bàn: TP. Phan Thiết, TP. Phan Rang – Tháp Chàm, huyện Tánh Linh, huyện Bắc Bình, huyện Tuy Phong, huyện Ninh Phước; thu thập trực tiếp địa danh dân gian, phỏng vấn nhân chứng và khai thác tài liệu lưu hành nội bộ.
  • Tư liệu thứ cấp: Thư tịch Hán Nôm, Địa bạ triều Nguyễn, Địa chí Bình Thuận, các ấn phẩm thống kê hành chính của hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, cùng các công trình nghiên cứu chuyên khảo đã xuất bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này xác lập khung lý thuyết liên ngành (địa danh học, địa lý văn hóa, sinh thái văn hóa, lý thuyết hệ thống, tương đối luận văn hóa) và khung khái niệm. Đồng thời, tác giả khảo sát toàn diện cơ sở thực tiễn vùng đất NTBT:

  • Không gian tự nhiên: Khu vực có khí hậu khô hạn và nóng nhất cả nước (nhiệt độ trung bình 26–27°C, lượng mưa thấp 800–1.500 mm/năm). Bốn dạng địa hình chính gồm: đồi núi thấp; vùng đồi gò lượn sóng; đồng bằng phù sa ven biển nhỏ hẹp bị chia cắt bởi sông Cái, sông Dinh, sông La Ngà; địa hình cồn cát và bãi cát ven biển kéo dài gần 300 km.
  • Lịch sử – hành chính: Diễn trình lịch sử từ thời vương quốc Champa (bộ lạc Cau, tiểu quốc Panduranga) đến mốc năm 1693 khi chúa Nguyễn Phúc Chu sáp nhập vùng đất này lập trấn Thuận Thành. Năm 1697 lập dinh Bình Thuận với 4 đạo (Phan Rang, Phan Thiết, Ma Li, Phố Hài) và 2 huyện (An Phước, Hòa Đa), ban đầu duy trì quyền tự trị của người Chăm qua chế độ thổ quan, đến năm 1832 thời vua Minh Mạng chuyển hoàn toàn sang chế độ lưu quan. Ngày 26/12/1992, tỉnh Thuận Hải được chia tách thành hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.
  • Kết quả thu thập và phân loại địa danh: Luận án thống kê và lập danh mục địa danh theo hai hệ tiêu chí: theo đối tượng địa lý (Bảng 1.2: đối tượng tự nhiên chiếm ưu thế ở sơn danh, thủy danh; đối tượng nhân tạo chiếm ưu thế ở hành chính, cư trú) và theo trường nghĩa văn hóa kết hợp nguồn gốc ngôn ngữ (Bảng 1.3: địa danh gốc Việt chiếm tỷ lệ cao nhất, kế đến là địa danh gốc Chăm, Raglai, K'ho, Hoa và địa danh hỗn hợp).

Chương 2: Địa danh phản ánh không gian văn hóa Ninh Thuận và Bình Thuận

Chương 2 tập trung phân tích cách thức con người tri nhận và đặt tên cho cảnh quan tự nhiên đặc thù của vùng bán khô hạn Nam Trung Bộ:

  • Địa hình và thổ nhưỡng: Địa danh phản ánh chân thực các dạng địa mạo như núi đá (Hòn Vọng Phu, Hòn Đỏ, Núi Chúa, Núi Cà Đổng), các vùng cát đặc thù (Đồi Cát Bay, Đồi Cát Trắng, Động Cát, Bàu Trắng), các vùng đất sỏi đá cằn cỗi (Đá Bạc, Hòn Rơm).
  • Khí hậu và thủy văn: Phản ánh đặc tính khô nóng, thiếu nước qua hệ thống thủy danh gắn với nguồn nước hiếm hoi như khe, suối, mương, hồ, giếng (Mương Mán, Suối Kiết, Khe Gà, Hồ Sông Sắt, Giếng Đá), hoặc các cửa biển, vịnh biển đón gió (Vịnh Vĩnh Hy, Mũi Né, Cà Ná, Cửa Phan Rang, Cửa Cà Ty).
  • Động thực vật và đặc trưng kép: Thống kê các loài sinh vật đặc hữu được dùng để định danh (Bảng 2.1 phản ánh động vật như Đầm Cà Ná, Mũi Gà, Đảo Cù Lao Câu, Hòn Rùa; Bảng 2.2 phản ánh thực vật như Rừng Tràm, Hòn Me, Đèo Gióng Tranh, Suối Dầu, Cây Gáo). Phân tích dạng địa danh đặc trưng kép kết hợp địa hình với sinh vật (Núi Cóc, Bàu Sen, Dốc Rơm, Khe Gà).
  • Cách thức phân lập không gian: Thể hiện năng lực định vị không gian qua hình dáng, kích thước (Núi Nhọn, Hòn Dài, Suối Lớn, Bàu Nhỏ) và vị trí, phương hướng (Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Thuận Bắc, Thuận Nam, Thượng, Hạ, Đông, Tây).

Chương 3: Địa danh phản ánh lịch sử văn hóa Ninh Thuận và Bình Thuận

Chương này làm sáng tỏ các dấu ấn lịch sử và tiến trình giao lưu tiếp biến văn hóa được mã hóa trong địa danh:

  • Các yếu tố lịch sử – xã hội: Địa danh gắn liền với sự kiện lịch sử, các cuộc chiến tranh và phong trào kháng chiến; các chức danh thời phong kiến (Bến Đò Quan, Đồn Phó, Trạm Hành); các tổ chức phường hội, nghề nghiệp truyền thống (Phường Củi, Xóm Lưới, Xóm Gốm); sự thay đổi tên gọi hành chính qua các giai đoạn lịch sử và quá trình chuyển hóa chức năng (từ tên sông, núi chuyển hóa thành tên làng, xã, huyện).
  • Dấu ấn di dân: Địa danh phản ánh các luồng di cư từ miền Trung (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) vào khai phá vùng đất mới, thể hiện qua việc mang theo tên quê hương cũ đặt cho vùng đất mới.
  • Giao lưu tiếp biến văn hóa (Bảng 3.1): Biểu hiện rõ qua hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ Việt – Chăm – Raglai:
    • Việt hóa địa danh Chăm bằng ngữ âm/phiên âm: Hamutan $\rightarrow$ Hàm Thuận; Pandarãn/Panrang $\rightarrow$ Phan Rang; Mangthit $\rightarrow$ Phan Thiết; Parik $\rightarrow$ Phan Rí; Kran $\rightarrow$ Krông Pha / Cà Đổng.
    • Dịch nghĩa địa danh Chăm/Raglai sang tiếng Việt: Bukar (núi rơm) $\rightarrow$ Hòn Rơm; Palei Cac $\rightarrow$ Làng Cau.
    • Địa danh hỗn hợp (ghép từ): Thành tố chung tiếng Việt kết hợp thành tố riêng tiếng Chăm/Raglai (Sông Lu, Đèo Ngoạn Mục, Mũi Né, Bàu Trúc).
    • Hiện tượng đa tồn: Nhiều địa danh duy trì song song cả tên gọi hành chính tiếng Việt và tên gọi bản địa tiếng Chăm trong đời sống cộng đồng.

Chương 4: Địa danh phản ánh chủ thể văn hóa ở Ninh Thuận và Bình Thuận

Chương 4 khảo sát hình ảnh con người – chủ thể sáng tạo văn hóa được phản chiếu qua địa danh:

  • Thành phần tộc người và giai tầng: Địa danh ghi nhận sự cộng cư của các tộc người (Xóm Chăm, Làng Raglai, Thôn người Hoa) và sự phân hóa xã hội trong lịch sử (Xóm Trại, Ấp Lính).
  • Địa danh phản ánh nhân danh (Bảng 4.1):
    • Tên các vị vua chúa, danh nhân lịch sử gắn với vùng đất (Đường Nguyễn Huệ, Đường Huyền Trân Công Chúa, Đền Thờ Po Klong Garai, Po Rome).
    • Tên người bình dân, người có công khai khẩn đất hoang, lập ấp hoặc lập bến đò, dựng chợ (Cầu Bến Lội, Chợ Cô Kiều, Bãi Ông Địa, Giếng Thầy).
  • Tâm lý và tính cách cư dân:
    • Khát vọng và ý chí (Bảng 4.2): Địa danh Hán Việt chỉ đơn vị hành chính phản ánh ước vọng hòa bình, thuận hòa, thịnh vượng, an khang (Hòa Đa, An Phước, Ninh Phước, Ninh Hải, Thuận Hải, Vĩnh Hảo, Phú Quý, Bình Thạnh).
    • Nỗi nhớ quê hương: Di dân xứ Bắc và Trung Trung Bộ đặt lại tên cũ để tưởng nhớ cội nguồn (Thôn Tri Thủy, Làng An Hải).
    • Sở thích sử dụng ký hiệu và con số: Xuất hiện dày đặc các địa danh chỉ số thứ tự, số lượng (Ba Ngòi, Cây Số 5, Suối Cát Mười Bốn, Ngã Ba Cây Táo).
    • Tính cách dân cư: Bộc trực, giản dị, thực tế, gắn bó sâu sắc với môi trường lao động ven biển và nông nghiệp khô cằn.

Chương 5: Địa danh phản ánh hoạt động văn hóa ở Ninh Thuận và Bình Thuận

Chương 5 đi sâu vào các hoạt động thực tiễn vật thể và phi vật thể của cư dân:

  • Văn hóa mưu sinh (Bảng 5.1):
    • Kinh tế biển: Chiếm tỷ trọng lớn với hệ thống địa danh chỉ nghề cá, vạn chài, bến thuyền, sản xuất nước mắm và làm muối (Vạn Thủy Tú, Cảng Cá Cà Ná, Đầm Nại, Vạn Phước Lộc, Đồng Muối Đề Gi, Lò Bát).
    • Thủ công nghiệp: Địa danh làng nghề gốm, dệt truyền thống (Làng Gốm Bàu Trúc, Làng Dệt Mỹ Nghiệp, Xóm Nồi, Xóm Rổ).
  • Văn hóa quân sự: Tên gọi các công trình phòng thủ, đồn bốt, chiến khu, căn cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến (Căn cứ CK7, Chiến khu Lê Hồng Phong, Đồn Mang Tố, Lũy Thầy).
  • Văn hóa tôn giáo và tín ngưỡng (Bảng 5.2):
    • Tín ngưỡng bản địa và tôn giáo dân tộc: Hệ thống đền tháp Chăm gắn với thần linh và vua thần (Tháp Po Klong Garai, Tháp Po Rome, Tháp Pô Đam); tín ngưỡng thờ Cá Voi (thờ thần Nam Hải) tại các vạn chài ven biển (Dinh Thầy Thím, Vạn Thủy Tú, Lăng Ông Nam Hải).
    • Tôn giáo thế giới: Phật giáo, Công giáo, Bà La Môn giáo, Hồi giáo Bani (Chùa Cổ Thạch, Chùa Hang, Nhà Thờ Mằng Lăng, Tu Viện, Thánh Đường Hồi Giáo).
  • Văn hóa nghệ thuật: Địa danh bắt nguồn từ truyền thuyết, huyền thoại dân gian, thơ ca dân gian và các địa điểm diễn ra lễ hội truyền thống (Thác Bà, Hòn Vọng Phu, Đồi Cát Mũi Né, Bến Thần).

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về mặt lý luận:

    • Vận dụng thành công mô hình tiếp cận liên ngành giữa Địa danh học, Địa lý học văn hóa, Sinh thái học văn hóa, Lý thuyết hệ thống và Tương đối luận văn hóa vào việc nghiên cứu địa danh một vùng đất cụ thể.
    • Xác lập hệ tiêu chí phân loại địa danh theo trường ngữ nghĩa văn hóa (gồm 4 nhóm trường nghĩa: Không gian, Lịch sử, Chủ thể và Hoạt động văn hóa), giúp khắc phục hạn chế của các phương pháp phân loại ngôn ngữ học thuần túy khi giải mã nội dung văn hóa.
    • Làm sáng tỏ về mặt lý thuyết bản chất mối quan hệ giữa địa danh và văn hóa: khẳng định địa danh không phải là bản sao chụp nguyên vẹn, cơ học 1-1 của hiện thực mà là bức tranh phản ánh chọn lọc qua lăng kính, thế giới quan và nhu cầu sinh tồn của chủ thể định danh.
  • Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

    • Cung cấp một tập hợp tư liệu địa danh phong phú, toàn diện tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận thông qua 7 đợt điền dã thực địa; thu thập và giải mã nhiều địa danh dân gian, địa danh vi mô chưa từng được ghi chép trong các thư tịch hành chính chính thống.
    • Phác họa bức tranh tổng thể về quá trình tiếp xúc, giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Chăm – Raglai – Hoa tại cực Nam Trung Bộ thể hiện qua các lớp địa danh phiên âm, dịch nghĩa, ghép từ và hiện tượng đa tồn.
    • Hệ thống dữ liệu và bảng phân loại của luận án là nguồn tư liệu khoa học trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch, quản lý địa danh, xây dựng ngân hàng tên đường, tên công trình công cộng và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương.
  • Kiến nghị và giải pháp:

    • Cơ quan quản lý hành chính cần thận trọng trong việc sáp nhập, đổi tên đơn vị hành chính; cần tôn trọng và bảo tồn các địa danh cổ truyền, tránh xu hướng số hóa làm mất bản sắc văn hóa địa phương.
    • Khai thác quỹ địa danh nhân vật lịch sử, địa danh Chăm cổ và địa danh truyền thống để đặt tên cho đường phố, trường học, công trình công cộng tại hai tỉnh.
    • Tích hợp tri thức văn hóa – lịch sử từ địa danh địa phương vào chương trình giáo dục lịch sử và giáo dục di sản tại các trường phổ thông trên địa bàn Ninh Thuận và Bình Thuận.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Về phạm vi thời gian, luận án tập trung khảo sát nguồn tư liệu chủ yếu từ năm 1693 trở về sau; các lớp địa danh cổ thời kỳ tiền Champa hoặc trước thế kỷ XVII chưa thể phục nguyên đầy đủ do hạn chế về nguồn thư tịch cổ và bi ký Hán Nôm/Phạn ngữ.
    • Quá trình điền dã và giải mã ngữ âm học lịch sử đối với một số địa danh tiếng Raglai, K’ho vùng sâu, vùng xa còn gặp khó khăn do tính chất biến đổi ngữ âm nhanh của ngôn ngữ không chữ viết hoặc chữ viết mới hình thành.
    • Mối liên hệ so sánh giữa địa danh Chăm ở NTBT với địa danh Chăm ở các vùng phụ cận (Khánh Hòa, Phú Yên, An Giang) chưa được mở rộng chi tiết do giới hạn dung lượng của một đề tài luận án.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh liên vùng đối với toàn bộ hệ thống địa danh gốc Chăm tại duyên hải miền Trung và Nam Bộ.
    • Đi sâu nghiên cứu biến đổi ngữ âm lịch sử và từ nguyên học dân gian của hệ thống địa danh các dân tộc thiểu số ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian) và Nam Á (Austroasiatic) tại vùng giáp ranh Nam Trung Bộ – Tây Nguyên.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:

    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Ngôn ngữ học, Địa danh học, Dân tộc học, Việt Nam học, Lịch sử học và Địa lý nhân văn; có thể tham khảo phương pháp luận tiếp cận liên ngành và cách thức xử lý dữ liệu địa danh.
    • Giảng viên, nhà nghiên cứu: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống cấu trúc văn hóa và hệ thống bảng biểu số liệu khảo sát thực địa làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa Champa và văn hóa Nam Trung Bộ.
    • Nhà quản lý, cán bộ hoạch định chính sách: Cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Nội vụ, Hội đồng Đặt đổi tên đường và công trình công cộng của hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận có cơ sở khoa học để thẩm định, lựa chọn và bảo tồn địa danh.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:

    • Khung lý thuyết và Bảng 1.1 về tiêu chí phân loại địa danh theo trường ngữ nghĩa văn hóa (Chương 1).
    • Phân tích cơ chế chuyển hóa ngôn ngữ, hiện tượng Việt hóa địa danh Chăm và địa danh ghép Việt – Chăm (Chương 3).
    • Hệ thống dữ liệu thống kê về địa danh mưu sinh kinh tế biển và địa danh tín ngưỡng tôn giáo dân tộc (Chương 5).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định mốc thời gian nghiên cứu từ năm 1693 dựa trên cơ sở lịch sử nào?
Năm 1693 là thời điểm chúa Nguyễn Phúc Chu sáp nhập phần đất cuối cùng của Champa tại Ninh Thuận – Bình Thuận vào lãnh thổ Đàng Trong, lập nên trấn Thuận Thành. Từ mốc này, người Chăm chính thức trở thành một bộ phận trong cộng đồng cư dân Đại Việt, đồng thời mở đầu quá trình di dân ồ ạt của người Việt đến khai phá, dẫn đến sự biến đổi sâu sắc và hình thành lớp địa danh song ngữ, địa danh hỗn hợp Chăm – Việt trên địa bàn.

2. Khung lý thuyết của luận án tích hợp những trường phái nghiên cứu nào?
Luận án tích hợp 4 trường phái lý thuyết chính: (1) Địa danh học (phân tích thành tố chung/riêng, tiếp cận lịch đại và đồng đại của Lê Trung Hoa, A. Superanskaja, Paul Woodman); (2) Địa lý học văn hóa và Sinh thái học văn hóa (nghiên cứu sự thích ứng tự nhiên của Carl Sauer, Julian Steward, Trần Quốc Vượng); (3) Lý thuyết hệ thống (mô hình cấu trúc văn hóa gồm không gian, lịch sử, chủ thể, hoạt động của Leslie White, Phạm Đức Dương, Lý Tùng Hiếu); (4) Tương đối luận văn hóa (nhìn nhận giá trị văn hóa từ bối cảnh nội tại của Franz Boas, Ngô Đức Thịnh).

3. Sự giao lưu tiếp biến văn hóa Chăm – Việt được biểu hiện qua những dạng thức địa danh cụ thể nào?
Tiếp biến văn hóa thể hiện qua 4 dạng thức chính: (1) Việt hóa ngữ âm từ gốc Chăm (Mangthit $\rightarrow$ Phan Thiết, Pandarãn $\rightarrow$ Phan Rang, Hamutan $\rightarrow$ Hàm Thuận); (2) Dịch nghĩa địa danh Chăm sang tiếng Việt (Bukar $\rightarrow$ Hòn Rơm); (3) Địa danh ghép hỗn hợp thành tố chung Việt với tên riêng Chăm (Sông Lu, Mũi Né, Đèo Ngoạn Mục); (4) Hiện tượng đa tồn (một địa điểm tồn tại song song cả tên Chăm bản địa và tên hành chính tiếng Việt).

4. Vì sao tác giả bác bỏ quan niệm xem địa danh là "bản sao chụp nguyên vẹn" của hiện thực?
Tác giả chứng minh rằng quan hệ giữa văn hóa và địa danh là quan hệ "lệch pha", quan hệ giữa bộ phận và toàn thể. Địa danh không tự sinh ra mà được tạo tác bởi con người. Mọi tên gọi đều phải đi qua "bộ lọc" tri nhận, thói quen, tâm lý, lợi ích sinh tồn và thế giới quan của chủ thể định danh. Do đó, địa danh chỉ phản ánh những khía cạnh tự nhiên và xã hội mà con người quan tâm, chọn lọc và trao gửi ý nghĩa chứ không sao chép toàn bộ hiện thực khách quan.

5. Địa hình bán khô hạn đặc thù của Ninh Thuận – Bình Thuận để lại dấu ấn gì trong hệ thống địa danh?
Môi trường tự nhiên ít mưa, nhiều nắng gió và cồn cát được phản ánh đậm đặc qua các nhóm địa danh chỉ đồi cát, bãi cát (Bàu Trắng, Đồi Cát Bay, Hòn Rơm), các nguồn nước hiếm hoi mang tính cứu sinh (Suối Kiết, Mương Mán, Giếng Đá, Hồ Sông Sắt), và các cửa biển, vịnh biển thuận lợi cho đánh bắt, trú bão (Vịnh Vĩnh Hy, Cà Ná, Cửa Phan Rang, Cửa Cà Ty).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Thủy là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu hệ thống địa danh Ninh Thuận và Bình Thuận một cách hệ thống dưới góc nhìn chuyên ngành Văn hóa học. Bằng việc tích hợp các lý thuyết địa danh học, địa lý văn hóa, hệ thống cấu trúc và tương đối luận văn hóa, tác giả đã giải mã thành công bức tranh văn hóa đa tộc người (Chăm, Việt, Raglai, Hoa) được lưu giữ trong các tầng vỉa tên gọi địa lý. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp khung phân loại trường nghĩa văn hóa mới cho ngành Văn hóa học mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng có giá trị cho công tác quản lý hành chính, bảo tồn di sản văn hóa và quy hoạch tên đường tại địa phương. Công trình khẳng định địa danh chính là những "hóa thạch văn hóa" phản ánh sinh động lịch sử khẩn hoang, phương thức mưu sinh và bản sắc tâm hồn của cư dân vùng đất cực Nam Trung Bộ.