MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong thế giới khách quan, hầu hết các sự vật hiện tượng ra đời và tồn tại đều có tên gọi cụ thể, đó có thể là tên người, tên các đồ vật hay tên các sông, các núi, các vùng miền, các đơn vị hành chính,… những tên gọi ấy được đặt ra không chỉ để gọi mà còn mang nhiều ý nghĩa khác. Việc nghiên cứu, tìm hiểu về các tên gọi ấy đã hình thành nên một ngành khoa học gọi là Danh xưng học. Danh xưng học nghiên cứu về người thì được gọi là Nhân danh học, còn nghiên cứu về các đối tượng địa lí thì gọi là Địa danh học.
Địa danh được cấu tạo từ chất liệu ngôn ngữ, chịu sự tác động và chi phối của ngôn ngữ, vì thế chúng ta khó có thể hiểu và giải thích một cách đầy đủ về địa danh nếu như không sử dụng những tri thức về ngôn ngữ, nhưng đồng thời, nghiên cứu về địa danh cũng chính là góp phần làm cho nội dung ngôn ngữ thêm phong phú. Trong ngôn ngữ thì nhìn chung cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng đều có sự chi phối nhất định đối với việc cấu tạo địa danh, vì vậy có thể xem địa danh như là một nguồn tư liệu quý giá trong việc nghiên cứu về ngôn ngữ. Địa danh không chỉ đơn thuần là tên gọi mà nó còn gắn bó chặt chẽ với văn hóa, có mối quan hệ khăng khít với địa lí, con người cũng như lịch sử phát triển của một vùng đất nhất định. Qua một địa danh nào đó, ta có thể tìm hiểu được quá trình lịch sử, đặc trưng văn hóa, ngôn ngữ, đời sống sinh hoạt, hay thậm chí là ước mơ, khát vọng của con người ở vùng đất đó.
Trong một vùng đất có nhiều dân tộc cùng chung sống, địa danh ở nơi đó cũng mang dấu tích của nhiều ngôn ngữ khác nhau, việc nghiên cứu địa danh là góp phần cũng cố tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc, đồng thời phát huy được sự phong phú và nét đặc trưng của ngôn ngữ địa phương. Cà Mau – vùng đất cuối trời của Tổ quốc, đóng vai trò như chiếc mũi tàu ngày đêm không ngừng bồi đăp phù sa lấn ra biển lớn. Cà Mau là vùng sông nước với hệ thống sông ngòi chằng chịt, phần lớn diện tích là chăn nuôi thủy sản, cư dân ở đây chủ yếu là dân tộc Kinh, ngoài ra còn có dân tộc Hoa, Khmer và một bộ phận nhỏ các dân tộc ít người khác, con người ở đây sống phóng khoáng, giản dị và vô cùng hiếu khách. Cà Mau là một vùng đất trẻ, là tỉnh được khai khẩn muộn màng so với các tỉnh khác trong khu vực, với lịch sử hình thành và phát triển khoảng 300 năm, nhưng cho đến hiện tại Cà Mau đã khẳng định được vị trí của mình trong khu 1 vực cũng như trong cả nước.
Những đặc điểm đó của Cà Mau đã phần nào thể hiện qua các địa danh ở Cà Mau. Là sinh viên ngành Văn học, có điều kiện học tập về ngôn ngữ học, nhận thấy rằng việc tìm hiểu nguồn gốc và lí giải ý nghĩa của một từ, một tên người hay một địa danh có nhiều điều thú vị. Đồng thời cũng là một người con của vùng đất Cà Mau, nhiều lần tôi thắc mắc vì sao tỉnh mình lại có tên gọi là Cà Mau mà không phải là một tên nào khác, trong tỉnh thì có tên gọi của các huyện, tại sao gọi là huyện Đầm Dơi, U Minh, Năm Căn, Trần Văn Thời…, những tên gọi đó vì đâu mà có và nó có ý nghĩa gì? Những thắc mắc đó đã thôi thúc tôi tìm hiểu để tìm ra câu trả lời. Việc tìm hiểu về những địa danh ở Cà Mau đã có một số bài báo viết về các giai thoại của các địa danh, ví dụ như “Giai thoại về địa danh Năm Căn”, “Giai thoại về địa danh Cái Tàu”,… Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về các địa danh ở Cà Mau.
Vì những lí do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu địa danh tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu. Lịch sử vấn đề 2. Nghiên cứu địa danh ở Việt Nam Có thể nói ngành Địa danh học ở Việt Nam là một ngành khoa học còn khá trẻ, việc nghiên cứu về địa danh ở Việt Nam bắt đầu muộn hơn so với các nước phương Tây, mặc dù vậy, từ thời Bắc thuộc, địa danh Việt Nam đã được đề cập đến trong các sách: Tiền Hán thư, Hậu Hán thư, Địa lí chí,… tuy nhiên, các sách này là sách do người Hán biên soạn và mục đích biên soạn chủ yếu là để tìm hiểu địa lí, địa danh nhằm phục vụ cho cuộc xâm lược nước ta. Sau thời Bắc thuộc, đặc biệt là từ thế kỉ XIV trở đi, việc nghiên cứu địa danh mới được các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện, lúc này địa danh bước đầu được thu thập, tìm hiểu về nguồn gốc, ý nghĩa.
Có thể kể đến những tác phẩm tiêu biểu đó là: An Nam chí lược của Lê Hắc (1333), Dư địa chí của Nguyễn Trãi (1435), Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776); Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú); Đại Nam nhất thống chí của Đặng Xuân Bảng (1882),… Đến giữa thế kỉ XX, khi mà ngành Địa danh học trên thế giới đã bước vào giai đoạn phát triển thì địa danh học Việt Nam mới dần dần hình thành, có thể nói vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam thực sự có bước tiến đáng kể từ năm 1960 2 trở đi với công trình Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông (1964) của Hoàng Thị Châu, đây được xem là công trình đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học. Tiếp sau đó là bài Thử bàn về địa danh Việt Nam (1976) của Trần Thanh Tâm, nêu lên một số vấn đề cơ bản về địa danh và địa danh học Việt Nam. Công trình khoa học Những đặc điểm chính của địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh là luận án phó tiến sĩ của Lê Trung Hoa được bảo vệ thành công vào năm 1990, sau khi bảo vệ luận án thành công, ông in thành sách Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh (1991). Đây là công trình trình đầu tiên nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học và trình bày khá hệ thống những vấn đề mà người nghiên cứu địa danh cần quan tâm (phân loại và định nghĩa địa danh, nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh, các phương thức đặt địa danh, cấu tạo địa danh, ý nghĩa và nguồn gốc một số địa danh,…) Ngoài ra, thời gian này còn có một luận án phó tiến sĩ và hai luận án tiến sĩ về địa danh, đó là: Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (1996) của Nguyễn Kiên Trường, Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2003) của Từ Thu Mai và Những đặc điểm chính của địa danh Đak Lak (2003) của Trần Văn Dũng.
Bên cạnh những luận án trên, còn có cuốn sách Địa danh Việt Nam (1993) sau này tái bản đổi tên thành Một số vấn đề về Địa danh học Việt Nam (2000) của Nguyễn Văn Âu nêu khái quát về đặc điểm địa danh Việt Nam, phân loại và phân vùng địa danh rồi khảo sát cụ thể 8 loại địa danh. - Về phân loại, ông phân loại địa danh theo 3 cấp: loại, kiểu và dạng địa danh. + Loại địa danh: địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội + Kiểu địa danh (7 kiểu): thủy danh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện thị, tỉnh - thành phố và quốc gia. + Dạng địa danh (12 dạng): sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng, truông trảng, làng - xã, huyện - quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia.
[3; 38-41] Nhìn chung, cách phân loại của Nguyễn Văn Âu khá chi tiết và phức tạp. - Theo Nguyễn Văn Âu, “phân vùng địa danh là sự phân chia địa danh thành các khu vự khác nhau trên lãnh thổ, công việc này có ý nghĩa lớn trong việc tìm hiểu lịch sử hình thành dân tộc, quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ, 3 đặc biệt là ngôn ngữ dân tộc” [3; 41]. Ông phân vùng địa danh thành: miền địa danh, khu địa danh và vùng địa danh. + Có các miền địa danh: Nam Á, Nam đảo, Hán - Tạng + Các khu địa danh: Việt - Mường, Mol – Khmer, Tày Thái, H’Mông – Dao, Chàm – Jarai, Ê đê, Tạng - Miến, Hán – Hoa + Các vùng địa danh: Việt, Mường, Banar – Tà ôi, Thái, Khmer, Dao, Tày – Nùng, Càm, Ê đê,… Cuốn Địa danh học Việt Nam (2006) của Lê Trung Hoa đã có những đóng góp mới mẻ hơn vào ngành Địa danh học Việt Nam.
Về phân loại: - “Theo đối tượng, ta có thể phân ra: + Địa danh chỉ địa hình thiên nhiên (địa danh chỉ địa hình) + Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều (địa danh công trình xây dựng) + Địa danh chỉ các đơn vị hành chính (địa danh hành chính) + Địa danh chỉ vùng (địa danh vùng)” [8; 16] - “Theo ngữ nguyên, ta có thể chia địa danh thành 4 nhóm lớn: + Địa danh thuần Việt + Địa danh Hán Việt +Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc tiểu số +Địa danh bằng các ngoại ngữ” [8; 17] Cách phân loại theo đối tượng của Lê Trung Hoa khá dễ hiểu, rõ ràng và logic. Ngoài ra, công trình này đã trở thành nguồn tư liệu quý giá đối với những ai quan tâm đến Địa danh học, trong công trình này ông đã trình bày rất nhiều nội dung về địa danh, các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh, các phương thức đặt địa danh và cấu tạo địa danh,… Ngoài ra còn có một số cuốn từ điển địa danh đáng chú ý: Sổ tay địa danh Việt Nam (1995) của Đinh Xuân Vịnh, Sổ tay địa danh Việt Nam (1998) của Nguyễn Dược – Trung Hải, Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng (1998) do Ngô Đặng Lợi chủ biên… 4 2.